CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VOI HOAT DONG CONG CHUNG 1. KHAINIEM CONG CHUNG 1. Khai niém Khái niệm là một nội dung mang tinh nền tảng mà bat kỳ công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào cũng phải tìm hiểu trước khi nghiên cứu về một chế định pháp luật. Dé hiểu rõ hơn van dé quản ly nhà nước đối với hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay, trước hết, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm công chứng.
Cũng như nhiều thuật ngữ pháp lý khác, thuật ngữ công chứng tuy được sử dụng nhiều trong các văn bản pháp luật và được định nghĩa chính thức tại Điều 2 Luật Công chứng nhưng về mặt lý luận nhận thức, quan niệm về công chứng của các chuyên gia pháp luật lại đang có nhiều ý kiến khác nhau, chưa có sự thống nhất. Điều 2 Luật Công chứng quy định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hop dong, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp dong, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công ching”. Tác giả Đặng Van Khanh trong Luận án tiễn sỹ luật học năm 1999 với dé tài “Những vấn đề ly luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giả trị pháp ly của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay” quan niệm: “Công chứng là việc công chứng viên, người có thẩm quyên công chứng tao lập ra những văn ban, hop đông mà đương sự phải hoặc muốn tạo cho chúng có giá trị pháp lý như những văn ban cua các cơ quan nhà nước thông qua việc lap, chứng nhận và lưu giữ các văn ban, hop đông đó ”. Tác gia Dương Khánh, trong Luận án tiến sỹ luật học năm 2002 với đề tài “Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay” lại cho rằng: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực của các hoạt động giao dich và các sự kiện pháp lý khác theo quy định cua pháp luật hoặc theo yêu ZX 11 `.
câu, nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của công dân tô chức, góp phan phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Văn bản công chứng có gid trị chứng cứ và giá trị thi hành đối với cá nhân, tổ chức có liên quan, trừ trường hop bi Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu ”. Tuấn Dao Thanh đưa ra khái niệm: “7rong lãnh thé nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công chứng với tư cách một hoạt động bồ trợ tư pháp, là việc công chứng viên, người có thẩm quyển công chứng tạo lập và xác nhận tinh xác thực của sự kiện, thỏa thuận trong những giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng hay do các bên đương sự tự nguyện yêu câu, nhằm bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của họ cũng như của những bên có liên quan khi tham gia giao kết giao dich đó” [22, tr. Quy định của Luật Công chứng cũng như các quan điểm của các học giả về khái niệm công chứng nói trên, mỗi quan điểm đều có những yếu tố hợp lý riêng và nhìn chung đã tiếp cận vấn đề theo một số nội dung như chủ thể, mục đích, phạm vi công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn dé như vậy vẫn chưa hoàn toàn lột tả được đầy đủ bản chất của công chứng. Theo chúng tôi, ở Vét Nam hiện nay, khái nệm công chứng cân được hiệu như sau: Công chứng, với tw cách là một hoạt động bồ trợ tư pháp, là việc công chứng viên, các chủ thể có thẩm quyền theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc quy định của pháp luật, chứng nhận tính xác thục, tính hợp pháp cua giao dịch bằng văn bản nhằm tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ lợi ích của nhà nước cũng như quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, phòng ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phan tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đặc điểm của công chứng Từ khái niệm trên, có thé thay công chứng mang những đặc điểm cơ bản sau: 1. Về chủ thể có thẩm quyên thực hiện công chứng ZX 12 `.
Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta hiện nay có ba loại chủ thé sau đây có thâm quyền thực hiện công chứng. Trước hết và chủ yếu nhất là công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng. “Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp dong, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp dong, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công ching” (Điều 2 Luật Công chứng). UBND huyện, quận, thị xã (UBND cấp huyện) và UBND xã, phường, thị tran (UBND cấp xã) thực hiện việc công chứng (chứng thực) hợp đồng, giao dich về bat động sản như: mua ban nhà; chuyển nhượng quyên sử dụng đất; tặng cho, cho thuê, thế chấp nhà ở, quyền sử dụng đất.
theo các quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 450, 467, 492, 689), Luật Đất đai 2013 (có hiệu lực từ ngày 01. Dé bảo vệ quyên, lợi ich hợp pháp của các công dân Việt Nam ở nước ngoài, pháp luật cũng quy định Cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam ở nước ngoài được “thuc hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và diéu ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên ” (Khoản 7, Điều 8 Luật Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài 2009). Về mục đích của công chứng Mục đích của công chứng là xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Tính xác thực ở đây được hiểu là việc xác định chính xác về thời gian, địa điểm diễn ra việc giao kết hợp đồng, giao dịch; xác định đúng người yêu cầu công chứng (trên cơ sở các giấy tờ tùy thân, giấy tờ, tài liệu về tình trạng hôn nhân, giấy tờ về việc được ủy quyền.
mà người yêu cầu công chứng cung cấp) cũng như năng lực hành vi của người yêu cầu công chứng tại thời điểm công chứng; xác định đúng đối tượng của hợp đồng, giao dịch (trên cơ sở các giấy tờ, tài liệu vê tai sản, vê công việc phải làm. mà người yêu câu công chứng cung cap); ZX 13 `. xác định đúng nội dung các điều khoản của hợp đồng, giao dịch (trên cơ sở ghi nhận chính xác ý chí chủ quan của các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch). Tính hợp pháp ở đây được hiểu là việc lập và giao kết hợp đồng, giao dịch phải tuân thủ đúng thủ tục mà pháp luật quy định, đồng thời nội dung các điều khoản, thỏa thuận (ý chí của các bên) trong hợp đồng giao dịch cũng không được trái với quy định của pháp luật.
Có nghĩa là, chỉ các hợp đồng, giao dich hợp pháp mới được công chứng viên xác nhận, những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp sẽ bị từ chối công chứng. Chính đặc điểm này của công chứng quy định chức năng bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tổ chức liên quan đến giao dịch. Thứ ba, về phạm vi công chứng Luật Công chứng không quy định cụ thé phạm vi những hợp đồng, giao dịch nào bắt buộc phải công chứng nhưng tại các quy định của các luật chuyên ngành khác có liên quan, chúng ta có thé liệt kê một số loại hợp đồng, giao dịch sau thuộc diện phải công chứng: hợp đồng mua bán, cho thuê, thuê mua, tặng cho, đôi, thừa kế, thé chấp, cho mượn, cho ở nhờ và uy quyền quản lý nhà ở (Điều 90 và Khoản 3 Điều 93 Luật Nhà ở); hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013); hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng (Khoản 2 Điều 73 Luật Kinh doanh bat động sản 2006). Ngoài một số loại hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng ké trên, các hợp đồng, giao dịch khác chỉ được công chứng khi các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dich “tw nguyện yêu cầu công chứng” (miễn là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội).
Về chức năng của công chứng Mục đích và phạm vi công chứng là những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đên chức năng của hoạt động này. Mục đích của công chứng càng cao bao nhiêu thì ZX 14 `. chức năng của công chứng cảng quan trọng bây nhiêu. Pham vi công chứng càng rộng bao nhiêu thì chức năng của công chứng càng lớn bây nhiêu.
Cùng với sự phát triển của các hệ thống pháp luật, cho đến nay, trên thế giới đã định hình ba hệ thống công chứng khác nhau: hệ thống công chứng Anglo- Sacxon, tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-Sacxon (Common Law); hệ thống công chứng tập thé (Collectiviste), tương ứng với hệ thống pháp luật XHCN (Sovietique) và hệ thống công chứng La-tinh, tương ứng với hệ thống luật La Mã - còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự (Civil Law). Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quy lai, chỉ có hai mô hình tổ chức công chứng: mô hình t6 chức công chứng tự do (ở hệ thống công chứng La-tinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình tổ chức công chứng nhà nước (ở hệ thống công chứng Collectiviste). Cho dù theo mô hình công chứng nao thì một trong những chức năng mang tính cơ bản, truyền thống của công chứng vẫn là bảo đảm an toàn pháp ly cho các giao dịch, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tô chức liên quan đến giao dịch. Chính vì vậy, công chứng viên thường được coi như là “thẩm phán hợp đồng” hay “thẩm phán phòng ngừa”.
Với mục tiêu xây dựng và phát triển công chứng Việt Nam theo các chuẩn mực, thông lệ của hệ thống công chứng La-tinh, chức năng của công chứng Việt Nam cũng không năm ngoài quy định mang tính truyền thống này.