CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG RAU AN TOÀN 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với thị trường 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với thị trường Sự phát triển của sản xuất hàng hóa, sự ra đời của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự QLNN đối với nền kinh tế mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nền kinh tế thị trường cùng với cơ chế sản xuất của nó đã tạo ra lượng của cải vất chất nhiều hơn tất cả các nền kinh tế trước nó làm ra.
Cơ chế thị trường có khả năng điều tiết nền sản xuất xã hội, phân bổ các nguồn tài nguyên vào các khu vực sản xuất mà không cần một sự điều khiển nào. Cũng chính vì thể mà nó tồn tại những khuyết tật mang tính cơ chế như thị trường phát triển tự phát, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích xã hội, cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa giàu nghèo… Những khuyết tật này chính bản thân thị trường không thể sửa chữa mà cần tới một chủ thể khách quan đứng cao hơn thị trường để điều tiết, đó chỉ có thể là Nhà nước [8, tr. Quản lý có thể hiểu với ý nghĩa thông thường, phổ biến, với phạm vi rất rộng là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định [8, tr. QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế [8, tr.
8 n Theo nghĩa rộng, QLNN về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, QLNN về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ). QLNN về kinh tế nhằm khắc phục những nhược điểm, hạn chế khuyết tật của cơ chế thị trường đồng thời tạo điều kiện cho cơ chế thị trường hoạt động hiệu quả. Nhà nước điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động kinh tế trên thị trường việc hoạch định các chương trình, chiến lược và kế hoạch phát triển cho từng vùng, từng khu vực nhưng thống nhất trong chiến lược phát triển chung của toàn quốc gia.
Từ việc tìm hiểu các khái niệm về QLNN, QLNN về kinh tế và QLNN về thương mại ta có khái niệm về QLNN về thị trường như sau: “QLNN đối với thị trường là hoạt động của các cơ quan QLNN thông qua các công cụ, phương pháp quản lý tác động đến thị trường nhằm xác định rõ chiến lược, quy hoạch, chủ thể kinh doanh, nguồn gốc xuất xứ, hệ thống hạ tầng, kênh phân phối sản phẩm… nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực hiện đúng và hiệu quả các quy định của Nhà nước đối với thị trường”. Từ các khái niệm được nêu ở trên ta thấy QLNN địa phương đối với thị trường RAT là một bộ phận của QLNN về thị trường RAT. Các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với thị trường (1) Nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai. Dân chủ: có sự tham gia của tất cả các bên trong quá trình xây dựng, triển khai và giám sát quản lý đối với thị trường gồm: Cơ quan quản lý, doanh nghiệp sản xuất, Hợp tác xã, chủ đầu tư và đại diện của những hộ nông dân và người tiêu dùng… Công bằng: trong cùng một thời điểm, các đối tượng được quản lý và giám sát như nhau trong việc sản xuất và kinh doanh mặt hàng cụ thể.
9 n Công khai: Công khai các nguyên tắc, tiêu chuẩn sản xuất và sơ chế, công khai các văn bản quản lý và quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng đối với mặt hàng cụ thể. (2) Nguyên tắc đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp, hộ sản xuất và người tiêu dùng Nhà nước là người vừa quyết định các chính sách liên quan đến quản lý thị trường vừa là người đưa ra các biện pháp xử lý hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, hộ sản xuất và người tiêu dùng. Doanh nghiệp sản xuất hay hộ sản xuất và kinh doanh hợp pháp khi tuân thủ đúng các quy trình, quy tắc sản xuất, tuân thủ đúng Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp… một cách thoả đáng theo quy định của pháp luật. (3) Nguyên tắc quản lý kết hợp theo ngành và lãnh thổ: Nguyên tắc này giúp các chủ thể và đối tượng quản lý biết vận dụng triển khai các văn bản QLNN của ngành, đồng thời đánh giá sự phù hợp của các chính sách với tình hình thực tế của địa phương.
(4) Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý: Hiệu lực và hiệu quả của chính sách luôn là mục tiêu cuối cùng của các cơ quan quản lý. Chính vì thế khi triển khai cần có những tiêu chí rõ ràng nhằm đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả. Nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường 1. Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý nhà nước đối với thị trường Chủ thể QLNN về thị trường là toàn bộ các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý đối với thị trường.
- Trung ương: Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Tài chính… - Địa phương: Gồm các sở ban ngành như: UBND, Sở công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở kế hoạch đầu tư… Các phòng ban cấp huyện… 10 n Đối tượng QLNN về thị trường là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội, hộ sản xuất ở trung ương, địa phương và các đối tượng khác có liên quan đến sản xuất và kinh doanh mặt hàng cụ thể. Mục tiêu QLNN về thị trường là hình thành một thị trường cạnh tranh lành mạnh. Giúp các nhà sản xuất, người tiêu dùng có cơ sở pháp lý trong sản xuất kinh doanh. Các nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường rau an toàn - Chiến lược và quy hoạch thị trường Chiến lược phát triển thị trường bao gồm các hoạt động, biện pháp của cơ quan nhà nước nhằm thúc thị trường phát triển theo hướng đồng bộ, bền vững.
Các chiến lược và quy hoạch về thị trường giúp định hướng thị trường về cung, cầu, giá và kênh phân phối giúp các chủ thể quản lý, chủ thể kinh doanh xác định rõ quyền và nghĩa vụ quả mình khi tham gia vào thị trường. Để thực hiện chiến lược và quy hoạch thị trường, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện đầy đủ đúng pháp luật, tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết tạo ra một thị trường rộng lớn. Bên cạnh đó, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật để thúc đẩy tạo vùng sản xuất. Khuyến khích phát triển trang trại, nhất là ở những nơi còn nhiều đất chưa sử dụng hoặc khai thác chưa hiệu quả.
Diện tích đất Nhà nước giao, cho thuê làm trang trại theo yêu cầu sản xuất, kinh doanh phù hợp với điều kiện đất đai của mỗi địa phương, với thời gian theo chu kỳ của dự án, tối đa là 50 năm [15]. Để thực hiện được điều đó Nhà nước thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản pháp quy khác về quản lý thương mại. Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, các quy định, vừa là người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhằm đưa chúng vào thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp. Trong quá trình đó, nhà nước sử dụng quyền lực, sử dụng những công cụ quản lý để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và 11 n có lợi cho các cá nhân, tổ chức sản xuát và kinh doanh RAT.
Nếu môi trường kinh doanh phù hợp, nghĩa là có sự đồng thuận, thống nhất giữa nhà nước và doanh nghiệp. - Chủ thể sản xuất, kinh doanh và nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì Chủ thể kinh doanh là Tổ chức, cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh (hoặc giấy phép đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và thực hiện trên thực tế các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận [19]. Các chủ thể sản xuất, kinh doanh phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận. Hiện nay, khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thì quy chế pháp lý về việc thành lập các chủ thể kinh doanh và các doanh nghiệp nói riêng có nhiều thay đổi theo hướng đơn giản hơn so với trước đây.
Theo đó, các chủ thể sản xuất, kinh doanh RAT là các loại hình doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, và hợp tác xã trước đây chỉ cần đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, việc thành lập vẫn phải tuân theo những trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đang có hiệu lực. Đây là đặc điểm xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để nhà nước thừa nhận và bảo vệ các chủ thể kinh doanh trước pháp luật [4]. - Quản lý cơ sở hạ tầng và hệ thống kênh phân phối (1) Quản lý cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố ảnh hưởng có tính quyết định đến sự phát triển thị trường.
Sản xuất, kinh doanh đỏi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện và quy trình sản xuất.