CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI THÁC HẢI SẢN 1. Một số khái niệm liên quan 1.1 Khai thác hải sản - Hải sản: + Mặt sinh học: hải sản là một tài nguyên thiên nhiên ở biển có khả năng tái sinh và từ lâu đã là một nguồn cung cấp thực phẩm và các sản phẩm khác nhau cho con người và vật nuôi. + Theo Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường: hải sản là loại tài nguyên biển thường được đánh bắt với điều kiện tự do tiếp cận vì không có quyền sở hữu, không ai thực sự làm chủ và cũng không ngăn cấm người khác đánh bắt. + Theo wikipedia “ hải sản là bất kỳ sinh vật biển được sử dụng làm thực phẩm cho con người”.
- Khai thác hải sản : Theo nghiên cứu các quy định của các quốc gia, cũng như quy định của Việt Nam về ngành thủy sản thì có lúc ghi là khai thác thủy sản, có lúc là khai thác hải sản. Do vậy, để cụ thể đối tượng, phục vụ cho việc nghiên cứu sâu hơn thì tác giả sẽ làm rõ như thế nào là khai thác thủy sản, như thế nào là khai thác hải sản. Trong ngành thủy sản của mỗi quốc gia thì sẽ có 3 trụ cột chính: hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản. Mỗi lĩnh vực sẽ có những đóng góp quan trọng cho kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia.
Do đó, tùy vào định hướng của mỗi nước thì sẽ có những tác động cụ thể vào 3 lĩnh vực này. Theo đó, đề tài này sẽ đi sâu vào hoạt động khai thác thủy sản mà đặc biệt tập trung phân tích hoạt động khai thác hải sản. 10 Luan van Khai thác hải sản là thuật ngữ mô tả những hoạt động đánh bắt, thu nhặt các tài nguyên sinh vật có ở biển Tại khoản 4, điều 2, Luật thủy sản 2003 quy định “ khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác”. [18] Theo định nghĩa của FAO, “ “capture fisheries” includes both marine and inland capture fisheries”( khai thác thủy sản bao gồm khai thác thủy sản vùng biển và khai thác thủy sản nội địa) Từ những quy định của pháp luật Việt Nam, cũng như cách hiểu theo FAO và khái niệm về “hải sản”, thì ta có thể hiểu khai thác hải sản là một hoạt động khai thác thủy sản và hoạt động khai thác này được thực hiện ở vùng biển.
Bên cạnh đó, ta cũng có thể hiểu khai thác thủy sản nội địa là hoạt động khai thác thủy sản, được tiến hành trên sông, hồ, đầm, phá và các vùng tự nhiên khác Việc phân biệt giữa khai thác hải sản và khai thác thủy sản nội địa sẽ giúp cho việc quản lý tốt hơn. Bởi đặc thù khai thác hải sản sẽ khác so với khai thác thủy sản nội địa. Trong hoạt động khai thác thủy sản, thì khai thác hải sản luôn giữ vai trò quan trọng, sản lượng luôn cao hơn khai thác nội địa, bởi thế, cần phải có những chính sách, kế hoạch phát triển khác nhau. + Phân loại khai thác hải sản Hoạt động khai thác hải sản của mỗi quốc gia về cơ bản sẽ được chia thành: khai thác hải sản ven bờ và khai thác hải sản xa bờ.
Tùy thuộc quy định của mỗi nước mà sẽ có những quy định khác nhau về khai thác ven bờ và khai thác xa bờ. Ví dụ tại Việt Nam, theo quy định Nghị định 33/2010 thay thế cho Nghị định 126/2006 về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển. Theo quy định, vùng biển nước ta được chia là 3 vùng ( vùng biển ven bờ, vùng lộng, vùng khơi), phạm vi khai 11 Luan van thác hải sản trên mỗi vùng của tàu thuyền sẽ căn cứ công suất máy chính, cụ thể như sau: + Tàu có công suất máy chính từ 90CV trở lên khai thác hải sản tại vùng khơi, không được khai thác tại vùng lộng và vùng biển ven bờ. + Tàu có công suất máy chính từ 20CV đến dưới 90CV khai thác tại vùng lộng và vùng khơi, không được khai thác tại vùng biển ven bờ.
+ Tàu có công suất chính dưới 20CV hoặc không lắp máy khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ, không được khai thác tại vùng khơi và vùng lộng. Căn cứ vào điều 12, điều 13 Luật Thủy sản 2003, Việt Nam chia khai thác hải sản thành 2 loại. Tuy nhiên, việc phân loại ở Việt Nam như thế nào là khai thác hải sản xa bờ, như thế nào là khai thác hải sản ven bờ thực sự chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định của pháp luật. Nhưng ta có thể tạm hiểu theo Quyết định 393/1997/QĐ-TTg: Khai thác hải sản xa bờ hay đánh bắt xa bờ là đánh bắt ở vùng biển ngoài khơi xa, ngư trường đánh bắt tính từ 30m độ sâu nước biển, ở khu vực miền Trung là 50m, tàu đánh bắt xa bờ phải có lắp máy chính công suất từ 90CV trở lên.
Khai thác hải sản ven bờ: theo quy định về đánh bắt xa bờ, thì khai thác ven bờ có thể hiểu là khai thác hải sản tính từ mặt nước biển tới độ sâu 30m, khu vực miền Trung là 50m , tàu có công suất máy chính dưới 90CV. Việc quy định cụ thể về khai thác hải sản xa bờ và ven bờ sẽ giúp cho việc khảo sát, thống kê dễ dàng, đánh giá chính xác hơn nguồn lợi hải sản.2 Quản lý nhà nước - Khái niệm “Quản lý” là đối tượng của nhiều ngành khoa học, vì vậy sẽ có nhiều định nghĩa “quản lý” dưới góc độ riêng của mỗi ngành khoa học. Tuy nhiên, ta có thể hiểu chung nhất, quản lý là sự tác động có định hướng lên một hệ 12 Luan van thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.
Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa [9] Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của nhà nước nói chung nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nước của bộ máy nhà nước, tức là tất cả ba hệ thống cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là là hoạt động quản lý do một loại cơ quan đặc biệt thực hiện mà Hiến pháp pháp luật nước ta gọi là các cơ quan hành chính nhà nước. Đó là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó, vì thế còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước.
Do đó, quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp sẽ đồng nghĩa với hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và các cán bộ, công chức trực thuộc. 13 Luan van Đề tài này sẽ tiếp cận quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, hay nói cách khác, sẽ tiếp cận theo hướng quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. - Đặc điểm quản lý nhà nước Vì đề tài tiếp cận theo nghĩa hẹp, cho nên, quản lý nhà nước có một số đặc điểm cơ quản sau: + Chủ thể quản lý: được thực hiện bởi các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới địa phương, thực hiện chức năng hành pháp.
+ Đối tượng quản lý: là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia. + Quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng +Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách để quản lý xã hội.3 Quản lý nhà nước đối với khai thác hải sản Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể hay một định nghĩa chính xác về quản lý nhà nước đối với khai thác hải sản. Tuy nhiên, dựa trên khái niệm đã nêu, ta có thể hiểu “Quản lý nhà nước đối với khai thác hải sản là quá trình nhà nước sử dụng trong phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong khai thác hải sản, đảm bảo cho hoạt động khai thác hải sản diễn ra theo đúng quy định của pháp luật nhằm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Hải sản là tài nguyên thiên nhiên có giới hạn, việc đánh bắt thiếu sự kiểm soát hiện nay đang dẫn tới nguồn lợi đang càng suy giảm trầm trọng cả hải sản ven bờ lẫn xa bờ, làm mất cân bằng sinh thái.
Bên cạnh đó, khai thác 14 Luan van hải sản là một hoạt động của xã hội, nên vai trò quản lý của nhà nước là tất yếu. Bởi những khía cạnh sau đây cho nên quản lý nhà nước đối với khai thác hải sản là cần thiết: + Yêu cầu phát triển kinh tế xã hội: Kinh tế: phát triển kinh tế biển là một trong những yêu cầu đặt ra trong Hội nghị Trung ương 4 khóa X “ phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp 53%-55% GDP và 55%-60% kim ngạch xuất khẩu cả nước”. Do vậy, hoạt động khai thác hải sản nói riêng và các hoạt động kinh tế biển nói chúng đang được nhà nước đẩy mạnh, thể hiện qua việc tập trung phát triển các cảng cá, bến cá, phát triển dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác hải sản. Xã hội: hoạt động phát triển kinh tế sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực.