CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 1.1 Khái niệm Xây dựng cơ bản là hoạt động xây dựng có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản là đầu tư các tài sản cố định nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là việc chi đầu tư xây dựng cơ bản. Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
[6] Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây 5 dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng.
Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Hoạt động ĐTXD đòi hỏi một số lượng lớn về vốn, lao động và vật tư xây dựng. Nguồn vốn được phân bổ trong suốt quá trình đầu tư, vì vậy chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành đúng chất lượng, trong thời gian ngắn, chi phí thấp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm của ĐTXD là đơn chiếc, cố định, nơi sản xuất chính là nơi tiêu thụ sản phẩm nên sản xuất phải di động, tư liệu sản xuất, nhân công lao động cũng phải di động khiến cho công tác quản lý phức tạp hơn.
Sản phẩm của ĐTXD có quy mô, khối lượng lớn, thi công ngoài trời nên phải chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, dễ hư hỏng, thất lạc. Thời gian của một chu kỳ đầu tư kéo dài nên quá trình đầu tư dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến tổng vốn đầu tư công trình có nhiều biến đổi lớn, thường là tăng lên so với dự kiến ban đầu. Do vậy nhiều dự án đầu tư hoàn thành chậm tiến độ hoặc bị phá sản. Các sản phẩm của ĐTXD có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm.
Hoạt động ĐTXD rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các địa phương, các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải quy định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư và vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ vì mục tiêu chung. 6 Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.
Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện). Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ chức có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án và được người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ thẩm định.2 Sự cần thiết phải quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước Đầu tư xây dựng tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước. Đầu tư xây dựng được tăng cường sẽ làm tăng hiệu suất lao động và dịch vụ của ngành, phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ, nâng cao năng lực sản xuất nền kinh tế quốc dân.
Từ đó góp phần tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước; tăng tích luỹ, đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội. Như vậy đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động rất quan trọng, là một giai đoạn trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó có vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý, 7 chính sách kinh tế của Nhà nước.3 Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước a. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thị trường xây dựng và năng lực ngành xây dựng. Quan điểm của Nhà nước ta về chính sách ĐTXD hiện nay là: Khuyến khích và tạo điều kiện nghiên cứu áp dụng thành tựu khoa học: công nghệ xây dựng tiên tiến, sử dụng vật liệu xây dựng mới, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; Tạo điều kiện ưu tiên cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ĐTXD theo quy hoạch ở miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Các thành phần kinh tế được đối xử bình đẳng trước pháp luật, được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động ĐTXD; có chính sách ưu tiên nhà thầu có công trình được Nhà nước trao tặng giải thưởng chất lượng công trình xây dựng khi tham gia đấu thầu trong hoạt động xây dựng để khuyến khích nâng cao chất lượng các công trình xây dựng. Từng bước cổ phần hoá, chuyển giao một số dịch vụ công do cơ quan QLNN đang thực hiện trong hoạt động ĐTXD cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp có đủ khả năng, điều kiện đảm nhận. Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xây dựng cơ bản. - Văn bản do Quốc hội ban hành: Luật và pháp lệnh; - Văn bản do Chính phủ ban hành: Nghị định, nghị quyết; - Văn bản do Thủ tướng chính phủ ban hành: Quyết định, chỉ thị; - Văn bản do các Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành: Thông tư, quyết định, chỉ thị; - Nghị quyết của HĐND các cấp, quyết định, chỉ thị của UBND các cấp.
Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến xây dựng cơ bản. Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này. Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng. Tiêu chuẩn xây dựng là các quy định về chuẩn mực kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc kỹ thuật, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ thuật và các chỉ số tự nhiên được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc công nhận để áp dụng trong hoạt động xây dựng.
Tiêu chuẩn xây dựng gồm tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng và tiêu chuẩn khuyến khích áp dụng. Tại Việt Nam, tiêu chuẩn xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành. Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác. Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng.