Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của QLNN về bảo vệ rừng Chương 2: Thực trạng QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk Chương 3: Hoàn thiện QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk 16 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG 1. Những vấn đề chung về rừng và bảo vệ rừng 1. Tổng quan về rừng 1. Khái niệm Rừng được phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam là “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của m i trường sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (gọi chung là quần xã sinh vật). Tài nguyên rừng là tư liệu sản xuất đặc biệt, loại tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành lâm nghiệp - là nguồn tài nguyên có tác dụng cung cấp lâm sản, phòng hộ và các tác dụng đặc hữu khác đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đặc điểm rừng Rừng được xác định trên cơ sở các tiêu chí, các tiêu chí này cũng tạo nên đặc điểm của rừng để phân biệt rừng với các đối tượng khác trong tự nhiên.
Một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau: Thứ nhất, là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,… có khả năng 17 cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ m i trường và cảnh quan. Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng. Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa, … kh ng được coi là rừng. Thứ hai, độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên.
Thứ ba, diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán [14].Phân loại rừng Rừng được phân loại theo các cách tiếp cận khác nhau, như: - Phân loại rừng theo mục đích sử dụng + Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và bảo vệ m i trường. + Rừng đặc dụng: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ bảo vệ m i trường. + Rừng sản xuất: là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ m i trường.
- Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành 18 + Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên. + Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng [14]. Vai trò - Về kinh tế - xã hội Rừng có vai trò kinh tế quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, tạo nguồn gỗ, lâm sản ngoài gỗ như: song, mây, tre, nứa, … phục vụ cho nhu cầu của xã hội và đời sống nhân dân. Trong sản xuất và đời sống, gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ được dùng vào nhiều mục đích khác nhau; gổ dùng làm nguyên liệu cho các ngành giấy, diêm, gỗ trụ mỏ, tà vẹt, xây dựng cơ bản,…đặc biệt trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu.Trong những năm gần đây, tình hình xuất gỗ của Việt Nam ngày một gia tăng đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Năm 2016 tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt gần 7 tỷ USD, tăng 1,1% so với năm 2015, đứng thứ 7 trong nhóm các mặt hàng/ngành hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam(nguồn: Tổng cục Hải quan). Ngoài ra, rừng là còn là nơi cung cấp nguồn dược liệu tự nhiên. Tổ chức y tế thế giới WHO đánh giá là 80 % dân số các nước đang phát triển dùng lâm sản ngoài gỗ để chữa bệnh, làm thực phẩm bồi bổ sức khỏe. Một số loại dược liệu như: Tam thất, nấm Linh chi, Đ ng trùng Hạ thảo, Sâm đá, Sâm dây,.
hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về công dụng và cách phát triển những loài dược liệu quý này. Nghề rừng không những tạo ra các sản phẩm lâm sản hàng hóa và dịch vụ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân; mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ m i trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu., góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đặc biệt đối với bảo vệ biên giới hải đảo; góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo 19 cho người dân nông thôn và miền núi. Kinh tế nghề rừng đã và đang có sự phát triển mạnh mẽ và đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay. Ngày nay, nhận thức của con người về rừng đầy đủ hơn song những điều kiện để phục hồi lại diện tích rừng đã bị tàn phá nặng nề đó còn rất nhiều khó khăn, nên c ng tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng cấp thiết hơn.
Tình trạng suy thoái tài nguyên rừng nếu kh ng được chấm dứt và tài nguyên rừng không được phục hồi thì đến một lúc nào đó, độ che phủ của rừng sẽ thấp hơn ngưỡng an toàn, điều đó sẽ gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế, cho sự ổn định xã hội và m i trường sinh thái. - Về m i trường Rừng là thành phần quan trọng của m i trường sinh thái, có vai trò rất lớn trong việc duy trì và bảo vệ m i trường sống cho con người, bên cạnh việc hấp thụ khí CO2 cung cấp khí O2, rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua việc giảm lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống trái đất, do rừng có độ che phủ lớn, rừng còn có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì và điều hòa lượng carbon trên trái đất do vậy rừng có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Một vai trò không kém phần quan trọng của rừng là điều hòa nguồn nước, giảm dòng chảy bề mặt, tăng lượng nước ngầm, hạn chế hiện tượng lắng đọng, dòng sông, lòng hồ. Tăng lượng nước vào mùa khô, hạn chế nước vào mùa lũ.Một số nhà khoa học tin rằng lưu lượng nước chảy bề mặt giảm đi ở những nơi có đất rừng so với những khu vực đất trống đồi trọc đặc biệt là đất nông nghiệp, th ng tin này được chứng minh bởi các công trình nghiên cứu khác nhau có sử dụng hàng loạt kỹ thuật khác nhau.
Nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng lưu lượng dòng chảy mặt tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với các khu vực canh tác nông nghiệp. Thêm vào đó rừng tự nhiên có 20 tác dụng tốt hơn so với rừng trồng trong việc giảm dòng chảy mặt, nguyên nhân là do rừng trồng có lớp thảm mục ít và đã bị cơ giới hóa. Đây là yếu tố quan trọng của rừng trong việc ngăn chặn và làm giảm tác động của các cơn lũ. Ngoài ra nhờ có thảm thực vật rừng đã khắc phục được xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất, hệ thống vi sinh vật còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất; điều hòa khí hậu, làm sạch m i trường sinh thái.
Ở những nơi rừng bị phá hủy thì đất dần bị thoái hóa diễn ra mãnh liệt và nhanh chóng, khiến cho các vùng đất này hình thành khu đất trống, đồi trọc, trơ sỏi đá, mất dần tính giữ nước, độ chua tăng cao, thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến các sinh vật. Hiện tượng bào mòn, rửa tr i cũng diễn ra nhanh, đất kh ng còn độ bám dễ bị sạt lở. Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói, quá trình đất mất mùn và thoái hóa sẽ xảy ra rất nhanh chóng và mãnh liệt. Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rữa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ ha.
Đồng thời các quá trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, đá ong, lại tăng cường lên làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi đá. Hiện nay nguồn tài nguyên đất đặc biệt là đất rừng đang ngày càng bị suy giảm do đó cần phải có biện pháp khai thác và sử dụng hợp lí nguồn đất và đất rừng để bảo vệ và phát huy tối đa tiềm năng của tài nguyên này. Rừng là kho dự trữ và bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của quốc gia, ngân hàng bảo vệ các nguồn gen động thực vật, bảo vệ ĐDSH. Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu đã tạo nên tính đa dạng sinh học v cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam, thể hiện ở trong các khu rừng rộng lớn về loài và nguồn gen.
Đa dạng loài bao gồm: 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt và 21 1.650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển.Rừng cung cấp nguồn gen về thực vật và động vật với 14.