Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng - Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng tại tỉnh Hải Dƣơng - Chương 3. Quan điểm và giải pháp bảo đảm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng tại tỉnh Hải Dƣơng hiện nay.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. Khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường và pháp luật về bảo vệ môi trường 1. Khái niệm môi trường Môi trƣờng là một khái niệm rất rộng và phong phú.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về môi trƣờng, tùy vào cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau; cụ thể: - Theo Hoàng Phê: “Môi trƣờng là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con ngƣời hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con ngƣời, với sinh vật ấy” [19,tr. - Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002): “Môi trƣờng đƣợc hiểu là các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và thiên nhiên” [16, tr. - Theo khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014: “Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật”. - Trong Báo cáo toàn cầu năm 2000 (công bố năm 1982) đã đƣa ra định nghĩa về môi trƣờng nhƣ sau: “Theo tự nghĩa, môi trƣờng là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh loài ngƣời.
Con ngƣời cần đến sự hỗ trợ của môi trƣờng xung quanh để sống … , mối quan hệ giữa loài ngƣời và môi trƣờng chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa cá thể con ngƣời và môi trƣờng bị xóa nhòa đi” [36, tr. Nhƣ vậy, từ các khái niệm về môi trƣờng trên đây, theo tác giả có thể rút ra khái quát chung về môi trƣờng nhƣ sau: Môi trường bao gồm tổng hợp các yếu tố tự 8 nhiên, yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người. Trong đó các yếu tố tự nhiên chủ yếu như đất, nước, không khí, ánh sáng, các hệ sinh thái, sinh vật… có ảnh hưởng và chi phối đặc biệt quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người. Những yếu tố này phát triển theo quy luật tự nhiên, nhưng chịu sự chi phối và tác động nhất định của con người.
Khái niệm bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trƣờng là một khái niệm ra đời kể từ khi con ngƣời nhận thức đƣợc sự nguy hiểm, tác hại do các hành vi của mình gây ra cho môi trƣờng. Hiện có rất nhiều quan niệm về bảo vệ môi trƣờng, tác giả chỉ viện dẫn ra một số quan niệm cụ thể sau đây: - Theo GS. TSKH Lê Huy Bá: “Bảo vệ môi trƣờng gồm các chính sách, chủ trƣơng, các chỉ thị nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của con ngƣời đối với môi trƣờng, các sự cố môi trƣờng do con ngƣời và thiên nhiên gây ra. Bảo vệ môi trƣờng còn bao hàm cả ý nghĩa sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên” [4, tr.
- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bảo vệ môi trƣờng là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật và môi sinh, đất nƣớc, không khí, lòng đất) nghiên cứu, thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu… nhằm tạo ra một không gian tối ƣu cho cuộc sống của con ngƣời. Ngoài ra, bảo vệ môi trƣờng còn tạo ra điều kiện tinh thần, văn hóa khiến cho đời sống con ngƣời đƣợc thoải mái” [16, tr. - Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cho rằng: “Bảo vệ môi trƣờng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
Phát triển năng lƣợng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch. Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên. Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia” [8, tr. 9 - Theo khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014: “Hoạt động bảo vệ môi trƣờng là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trƣờng; ứng phó sự cố môi trƣờng; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trƣờng; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trƣờng trong lành”.
[26] Từ các khái niệm về bảo vệ môi trƣờng trên đất, tác giả thấy rằng cho dù cách diễn đạt hoặc quan niệm có thể khác nhau song các quan điểm về bảo vệ môi trƣờng đều thống nhất ở điểm chung là bảo vệ môi trƣờng là hoạt động có ý thức của Nhà nƣớc, các tổ chức và mọi ngƣời dân trong xã hội trong việc giữ cho môi trƣờng trong lành, sạch đẹp khắc phục những tác động xấu của con ngƣời đối với môi trƣờng vì sự phát triển bền vững. Bảo vệ môi trƣờng không chỉ là nghĩa vụ của mỗi quốc gia mà còn là nghĩa vụ của mọi thành viên trong cộng đồng thế giới để giữ cho trái đất mãi mãi là màu xanh. Hơn nữa, bảo vệ môi trƣờng là sự nghiệp của toàn dân và phải tiến hành thƣờng xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ; trong đó, Nhà nƣớc có vai trò quan trọng trong quản lý, bảo vệ môi trƣờng bằng pháp luật. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường Trong các biện pháp bảo vệ môi trƣờng mà con ngƣời sử dụng thì bảo vệ môi trƣờng bằng pháp luật là biện pháp không thể thiếu đƣợc.
Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của Nhà nƣớc, tổ chức và cá nhân trong bảo vệ môi trƣờng; quy định chế tài xử lý hành vi vi phạm về bảo vệ môi trƣờng v. Pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ra đời nhằm tạo lập công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc bảo vệ môi trƣờng. Vậy pháp luật về bảo vệ môi trƣờng là gì?. Để trả lời câu hỏi này, trƣớc tiên chúng ta cần tìm hiểu pháp luật là gì?.
Theo lý luận Nhà nƣớc và Pháp luật: “… Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nƣớc ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hƣớng cụ thể”. Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội Việt Nam là nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). Pháp luật XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nƣớc XHCN ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cƣỡng chế của Nhà 10 nƣớc trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi ngƣời tôn trọng và thực hiện. Xét trong lĩnh vực môi trƣờng, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng.
Con ngƣời trong quá trình khai thác, sử dụng các thành phần của môi trƣờng tự nhiên (nhƣ đất đai, rừng, các nguồn nƣớc, khoáng sản, biển v.v) đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng và sự cố môi trƣờng. Pháp luật với tƣ cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh các hành vi xử sự của con ngƣời có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trƣờng. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà con ngƣời phải thực hiện khi khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trƣờng tự nhiên; quy định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thƣờng, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật buộc các cá nhân, tổ chức phải tuân thủ pháp luật trong khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trƣờng; quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các tổ chức bảo vệ môi trƣờng. Đồng thời, pháp luật còn quy định các tiêu chuẩn môi trƣờng, ví dụ: Tiêu chuẩn về độ ồn, tiêu chuẩn về nƣớc sạch, tiêu chuẩn về nồng độ bụi trong không khí… Các tiêu chuẩn môi trƣờng là cơ sở mang tính “định lƣợng” để xác định hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng và xác định mức độ, hậu quả thiệt hại gây ra cho môi trƣờng.
Chúng là cơ sở giúp cho việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng một cách chính xác, khoa học, khách quan. Hơn nữa, pháp luật có vai trò trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến bảo vệ môi trƣờng. Nó tạo lập cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp thông qua các quy định về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp v. Từ những phân tích và luận giải trên đây, luận văn đƣa ra khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nhƣ sau: Pháp luật về bảo vệ môi trường là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, bảo vệ, giữ gìn, quản lý tài nguyên thiên nhiên (tổ chức quản lý hoạt động bảo vệ môi trường) nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành gắn kết hài hoà với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trƣờng tạo thành hệ thống pháp luật bảo vệ môi trƣờng. Có thể nói, hầu hết tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam đều có những quy định ở mức độ này hay mức độ khác có liên quan vấn đề bảo vệ môi trƣờng.