CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Trường trung học phổ thông và giáo viên trung học phổ thông 1.1 Trường trung học phổ thông - Khái niệm trường THPT Trường THPT là cơ sở giáo''dục nối tiếp cấp trung học cơ sở thuộc bậc trung học của hệ''thống giáo dục quốc dân. Cấp THPT gồm 3 năm''học từ lớp 10 đến lớp 12. Đây là cấp học vừa trực''tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng vừa góp phần quan trọng cho việc đào tạo nguồn''nhân lực. Do đó trường THPT có mục''tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ''thông cơ bản, toàn diện với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục.
- Vai trò, chức năng của trường THPT Trường THPT là đơn''vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc''dân có nhiệm vụ chung là chuyên''trách hình thành và xây dựng nhân''cách người học theo những mục tiêu, nguyên lý, nội dung, phương ''pháp giáo dục đã được luật giáo dục quy định. Ngoài ra trường THPT có mối liên hệ mật thiết với cộng đồng''và xã hội ở các mặt chủ yếu sau: - Trường THPT luôn phải tận dụng''những nhân tố tích cực có được từ cộng đồng và xã hội như truyền''thống cách mạng, bản sắc''văn hoá, thành tựu khoa học kỹ thuật, nguồn lực, để thực hiện quá trình giáo dục. Từ đó chúng ta thấy trường THPT chịu sự chi phối của những đặc''trưng cơ bản của xu hướng thời đại, đất nước phát''triển KT - XH. - Trường THPT được coi là trung''tâm giáo dục, văn hoá, khoa học''kỹ thuật tại cộng đồng và nó góp phần tích cực vào quá trình phát triển KT-XH của cộng đồng xã''hội.
8 - Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT (Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ''thông có nhiều cấp, học nêu rõ nhiệm vụ và quyền hạn như sau): -(Tổ chức''giảng dạy, học tập và các hoạt;;động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông). - Mục tiêu phát triển giáo dục THPT. (Đối với giáo dục phổ)thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng)năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất)lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn).(Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.
Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ 9 sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020). - Với mục tiêu phát triển giáo dục cấp THPT là: ("Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo ra điều kiện cho sự phát triển năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau trung học phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp").
Nguồn nhân lực giáo viên trường trung học phổ thông 1.1 Giáo viên trung học phổ thông.(Theo quan điểm hệ thống , tập hợp các giáo viên của một trường THPT nhất định được gọi là đội ngũ''giáo viên của trường trung học phổ thông đó.(Đây là một hệ thống mà mỗi thành tố trong đó có mối quan hệ với nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế xác định. Do đó mỗi tác''động vào thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ vừa có ý nghĩa trên toàn thể với toàn bộ hệ thống.2 Khái niệm nguồn nhân lực giáo viên trường trung học phổ thông). Theo cách hiểu như trên nguồn nhân lực giáo viên là: toàn''bộ cán bộ giáo viên của nhà trường được biểu hiện thông qua số lượng, cơ cấu và chất lượng giáo viên trong quá trình tham gia vào hoạt động của trường.3 Những yêu cầu đối với nguồn nhân lực giáo viên trường trung học phổ thông. Trên cơ sở đánh''giá nguồn nhân lực giáo viên trường trung ''học phổ thông, tác giả xây dựng các yếu tố cụ thể về năng lực''giáo viên đó chính là nhũng yêu cầu đối với mỗi giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghề''nghiệp của mình.
Đối với nguồn lực giáo viên trường THPT cần phải''đảm bảo các yêu cầu sau: - Kiến thức - Kỹ năng - Phẩm chất cá nhân và đạo đức nghề nghiệp - Học hỏi và sáng tạo 1.1 Kiến thức: Đối với giáo viên THPT nguồn''nhân lực giáo viên được đào tạo bài bản thông qua hệ thống giáo dục''đại học góp phần to lớn vào sự phát triển giáo dục đất nước. Chính vì vậy để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát''triển của sự nghiệp giáo dục thì mỗi giáo viên cần phải trang bị cho mình một hệ thống kiến thức đảm bảo cho quá trình đào ''tạo và giáo dục. Kiến thức là''sự am hiểu một vấn đề hay lĩnh vực nào đó, là một yếu''tố quan trọng của mỗi con người. Kiến thức đối với giáo viên trường THPT chính là sự am hiểu tri''thức chuyên môn được đào''tạo và các lĩnh vực khác có liên quan.
Kiến thức của mỗi giáo viên có được phụ''thuộc vào quá trình đào tạo của bản thân, phụ thuộc vào khả năng''tiếp cận và lĩnh hội các tri thức. Để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy thì mỗi giáo viên cần đảm bảo kiến thức về chuyên''môn và kiến thức bổ trợ''chuyên môn. Kiến thức chuyên môn: - Mỗi giáo viên phải có kiến thức''chuyên môn sâu để phục vụ công tác dạy học, đây không phải yêu cầu mới của giáo viên nhưng do khối lượng kiến thức ngày 11 càng lớn đặc biệt là kiến thức về kinh''tế phải luôn luôn được cập''nhật và bổ sung. Đối với người giáo viên nếu kiến thức''chuyên môn còn non yếu và không nắm bắt được các vấn đề kinh''tế - xã hội nhạy cảm thì không thể lý giải được những vấn đề đặt ra một cách sâu''sắc, dễ lúng túng trong quá trình''truyền đạt và giải đáp thắc mắc cho học sinh.
- Nắm''vững được kiến thức của bộ môn do mình giảng dạy là yếu tố có ý nghĩa quyết''định đến chất lượng''đào tạo cũng như chiến lược phát triển của nhà trường, do đó nâng cao trình độ giảng''dạy là điều kiện bắt buộc. - Nhận biết được mối quan hệ giữa kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy là yếu tố tạo nên chất lượng giáo viên vốn được đo bằng kiến thức chuyên ngành và phương pháp''giảng dạy (hay còn gọi là kiến thức''chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm), hai yếu tố này có ý nghĩa quan trọng của mỗi giáo viên. Nghiệp vụ sư phạm được hiểu là kĩ năng thực hiện các hoạt động sư phạm như khả năng vận dụng các phương pháp, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng viết bảng, kĩ năng tổ chức dạy học, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xử lý tình huống, kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học, phong thái, tác phong của giáo viên trên lớp…Năng lực sư phạm của giáo viên có được là do kết quả của sự rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của họ. - Ngoài ra kiến thức của giáo viên trường THPT còn bao gồm cả tri thức khoa học: giáo viên THPT phải nắm vững và có hiểu biết sâu sắc nội dung, chương trình, sách giáo khoa của môn học mà mình đảm nhận.
Những hiểu biết này được xây dựng trên nền''tảng văn hoá chung. Điều đó giúp cho giáo viên có khả năng thuần''thục nội dung chương trình các môn học, sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp để truyền''đạt tri thức đến học sinh một cách rõ ràng, rành mạch. Và cũng nhờ có vốn kiến''thức nào đó mà khi tiến hành bài giảng, giáo viên có thể liên hệ, so sánh, đối chiếu với các tri thức có liên''quan, gần gũi giúp quá trình tiếp''thu của học sinh diễn ra một cách thuận lợi dễ dàng. Kiến thức bổ trợ chuyên môn: Hiểu biết các kiến thức bổ trợ''chuyên môn giúp cho mỗi giáo viên có thể vận''dụng vào trong bài học làm cho tiết dạy trở nên hiệu quả hơn.
Để vận dụng tốt các kiến thức bổ trợ chuyên môn vào bài dạy, cần 12 phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Nắm vững chiến lược''phát triển của nhà trường: Chiến lược phát triển của nhà trường có tác động quan trọng tới chất''lượng công việc của mỗi giáo viên. Trên cơ sở nắm vững các chiến lược phát triển của nhà trường mỗi giáo viên ý thức được mục tiêu cần hướng''tới trong chuyên môn''nghiệp vụ của mình, cách thức tiến hành để hoàn thành mục tiêu đó và sử dụng tốt các nguồn''lực trong quá trình thực hiện mục tiêu. Giáo viên là nguồn nhân lực chủ yếu trong hoạt động của trường THPT và tri thức của họ, góp phần quan trọng trong quá ''trình thực hiện mục''tiêu được nhanh hơn và hiệu quả hơn. - Hiểu biết về tình hình kinh''tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế: Giáo viên có sự hiểu''biết về tình hình kinh tế chính trị, xã''hội trong nước và quốc tế và vận dụng sự hiểu biết của mình vào trong bài''học làm cho học sinh có thêm kiến thức mới, tiết dạy trở nên sinh động hơn.
- Kiến thức về tin học và ngoại ngữ: Với xu thế đổi mới phương''pháp học tập, cập nhật và bổ sung kiến thức thường xuyên thông qua các phương tiện thông tin. Muốn vậy, giáo viên phải có kiến''thức về tin học để sử dụng phương tiện thiết bị, có kiến thức ngoại ngữ để đọc được các tài''liệu liên quan phục vụ cho quá trình nghiên cứu, biên soạn bài''giảng và giảng dạy trên lớp giúp cho bài giảng đạt hiệu''quả cao .2 Kỹ năng: Dạy học là một hoạt''động mang tính chất đặc thù cần nhiều kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ trong công tác giảng dạy để phát''triển tư duy sáng tạo của học sinh theo hướng “lấy người học làm trung tâm” và luôn gắn''liền giữa lý luận với thực tiễn. Giúp người học hiểu''biết sâu sắc về hệ thống tri''thức lý luận và khả năng vận dụng những tri thức đó vào trong đời''sống, vào hoạt động thực tiễn, tạo cho học sinh tích cực chủ động sáng tạo, làm việc theo nhóm.