Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ CÁC KHOẢN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước từ đất trên địa bàn Huyện 1. Các khoản thu ngân sách nhà nước từ đất 1.1 Khái niệm đất đai Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Luật đất đai năm 2013 có ghi:” Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay.” (Quốc hội, 2013) Như vậy, đất đai là khái niệm thể hiện mối quan hệ tổng hòa giữa hoạt động kinh tế - xã hội của con người với đất, lớp bề mặt trái đất trên một lãnh thổ nhất định. Bề mặt trái đất với phần bề sâu trong lòng trái đất và phần không gian bên trên được sử dụng vào các mục đích khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu của con người, trong các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế quốc dân.2 Khái niệm các khoản thu từ đất Theo luật đất đai 2013 các khoản thu từ đất là các khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác liên quan đến đất đai và sử dụng đất đai của các tổ chức và các nhân.3 Khái niệm về ngân sách nhà nước Theo luật ngân sách của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 25/6/2015 thì “ Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết n 6 định và được thực hiện trong một năm, để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Chính phủ, 2015). Khái niệm về thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước (Chính phủ, 2015) 1. Quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước từ đất 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý NSNN về các khoản thu từ đất a) Khái niệm quản lý NSNN về các khoản thu từ đất Quản lý ngân sách nhà nước về các khoản thu từ đất là hoạt động của các chủ thể quản lý thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều chỉnh hoạt động của ngân sách nhà nước liên quan đến các khoản thu từ đất nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Nhà nước thường sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như: các công cụ tài chính, tiền tệ tín dụng. Trong đó, thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác là một công cụ tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định, xây dựng chính sách, hợp lý các mức thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác phải nộp có tính đến khả năng của người nộp.
Với công cụ như vậy, sự can thiệp của Nhà nước vừa mang tính chất hành chính nhưng nặng về tính chất kinh tế, bằng việc quy định mức thuế cao, thấp hoặc áp dụng chính sách miễn, giảm để qua đó tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể trong việc sử dụng đất của mình. n 7 b) Đặc điểm quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước từ đất trên địa bàn Huyện Quản lý các khoản thu NSNN từ đất là một bộ phận của quản lý thuế nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của quản lý thuế. Đó là: Quản lý các khoản thu NSNN từ đất đai là một công tác tổng hợp chứa đựng nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố pháp luật, yếu tố tổ chức, yếu tố tuyên truyền vận động. Trong quản lý các khoản thu NSNN từ đất, chủ thể quản lý sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp kinh tế, hành chính, giáo dục, tuyên truyền.
Trong đó phương pháp hành chính được coi là phương pháp chủ yếu. Nếu xét ở tầm vĩ mô, quản lý các khoản thu NSNN từ đất đai là công tác mang tính kỹ thuật nghiệp vụ chặt chẽ. Ngoài ra, quản lý các khoản thu NSNN từ đất đai có những đặc điểm riêng có bị chi phối bởi đặc điểm của quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý thu và nộp thuế của Nhà nước. Đó là: Các khoản thu NSNN từ đất đai gồm nhiều khoản thu NSNN trong hệ thống thuế Nhà nước; Các khoản thu NSNN từ đất đai có phạm vi áp dụng rộng, đối tượng tác động rất lớn, đa dạng.
Thủ tục hành chính với các khoản thu NSNN từ đất đai mang tính đặc thù cơ bản: Việc thu các khoản thu NSNN từ đất vừa được thực hiện thông qua cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và vừa trực tiếp với người nộp thuế. Có nhiều khoản thu NSNN từ đất nên người nộp thuế đôi lúc còn nhầm lẫn giữa người chuyển nhượng, người nhận chuyển nhượng. c) Vai trò quản lý các khoản thu NSNN từ đất đai của Nhà nước - Thứ nhất, quản lý các khoản thu NSNN từ đất góp phần đảm bảo nguồn thu cho NSNN, là nguồn thu ổn định bền vững của ngân sách địa phương. Cũng như các sắc thuế khác, các khoản thu từ đất huy động nguồn lực tài chính góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, là nguồn thu ổn định bền vững của ngân sách xã, phường, thị trấn.
Thuế thu từ đất thường là nguồn thu n 8 quan trọng cho ngân sách địa phương. Vì đất đai là một loại tài sản cố định về vị trí và không thể di chuyển được nên ở hầu hết các quốc gia đều áp dụng hình thức thuế này. Thuế thu từ đất gắn liền với việc quản lý đất đai và xây dựng của chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở. Do đó, chính quyền địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức, triển khai thu thuế.
Việc quản lý thu thường được gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương và thường được điều tiết với tỷ lệ cao cho ngân sách địa phương. Địa phương được hưởng phần lớn nguồn thu từ thuế thu từ đất tạo điều kiện chủ động, tích cực trong thu thuế, tạo động lực quản lý thu tốt hơn. - Thứ hai, quản lý các khoản thu NSNN từ đất là công cụ quan trọng của Nhà nước góp phần thực hiện quản lý đất đai, quản lý thị trường bất động sản. Trên cơ sở hệ thống thuế hiện hành, các chính sách thuế tài sản và thu khác đã bảo đảm là công cụ quan trọng của Nhà nước thực hiện quản lý tài sản, tài nguyên quốc gia và tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực quản lý Nhà nước khác có liên quan, góp phần giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng cường xuất khẩu hàng hoá và mở rộng giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế.
Thông qua chính sách thuế thu từ đất sẽ giúp cho Nhà nước nắm được quỹ đất thực tế mà người sử dụng đất đã sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hay để ở, xây dựng công trình. giúp cho Nhà nước nắm được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và có biện pháp quản lý thị trường bất động sản để từ đó thực hiện điều tiết công bằng và quản lý của Nhà nước đối với đất đai. - Thứ ba, quản lý các khoản thu NSNN từ đất tác động tới sản xuất kinh doanh. Chính sách thu các khoản thu từ đất thu phân biệt đối với từng loại hành vi trong quá trình từ khi giao đất đến quá trình sử dụng đất và tiền thuê đất đã góp phần thu hút đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chính sách giao đất có thu tiền sử dụng đất đã huy n 9 động được nguồn vốn không nhỏ phục vụ cho mục đích đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời giải phóng sức sản xuất của đất đai, nâng cao khả năng sử dụng đất. - Thứ tư, quản lý các khoản thu NSNN từ đất góp phần thực hiện chính sách công bằng xã hội Các khoản thu từ đất góp phần thực hiện chính sách công bằng xã hội, điều tiết một phần thu nhập của người sử dụng đất. Công bằng xã hội thể hiện trong chính sách thu thông qua việc người sử dụng nhiều đất sẽ phải nộp nhiều thuế hơn và người sử dụng ít đất phải nộp thuế ít hơn; người sử dụng đất có vị trí tốt hơn, mức sinh lợi của đất cao hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn. Đồng thời thông qua việc miễn giảm thuế các khoản thu từ đất để thực hiện điều tiết mục đích khác như giải quyết vấn đề nhà ở cho người thuộc chính sách, những người có thu nhập thấp.
Các khoản thu ngân sách nhà nước chủ yếu từ đất đai trên địa bàn Huyện a) Thu tiền sử dụng đất Đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất trong các trường hợp: giao đất có thu tiền sử dụng đất; chuyển mục đích sử dụng đất từ đất Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất; chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tiền sử dụng đất phải nộp NSNN được xác định theo công thức sau: Trong đó: - Tsdd : Tiền sử dụng đất phải nộp NSNN - D: Diện tích đất - P: Giá đất - TL%sdd: Tỷ lệ % tiền sử dụng đất (nếu có) - Tbt: Tiền bồi thường, hỗ trợ, tiền SDĐ được miễn, giảm (nếu có) n 10 b)Tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê Nhà nước thu tiền thuê đất, thuê mặt nước khi Nhà nước cho thuê đất, mặt nước, chuyển từ hình thức được Nhà nước giao đất sang cho thuê đất.