Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường khai thác đá vôi tại Thanh Liêm, Hà Nam

Tải luận văn phân tích thực trạng ô nhiễm và đề xuất giải pháp quản lý môi trường hiệu quả trong khai thác đá vôi tại Thanh Liêm, Hà Nam.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2016

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động khai thác đá vôi tại Thanh Liêm

Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, sở hữu trữ lượng đá vôi dồi dào với vị trí địa lý thuận lợi, trở thành trung tâm khai thác khoáng sản quan trọng của Việt Nam. Hoạt động khai thác đá tại đây phục vụ nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng và bột nhẹ. Với sự phát triển kinh tế nhanh chóng, nhu cầu về nguyên liệu khoáng sản tăng vọt, dẫn đến việc mở rộng quy mô quản lý môi trường khai thác đá trở nên cấp thiết. Các mỏ khai thác tập trung với mật độ cao, tạo ra tác động cộng hưởng lên môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội của địa phương.

1.1. Đặc điểm trữ lượng và phân bố mỏ đá

Đá vôi ở Thanh Liêm được phân bố tập trung, với trữ lượng dự báo lên đến hàng trăm triệu tấn. Mật độ các mỏ khai thác ở huyện này là một trong những cao nhất tại Việt Nam, với hơn chục mỏ hoạt động đồng thời. Điều này tạo ra áp lực lớn đối với quản lý môi trường, yêu cầu các giải pháp quản lý toàn diện và hiệu quả.

1.2. Vai trò kinh tế và nhu cầu nguyên liệu

Hoạt động khai thác đá vôi đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế địa phương và quốc gia. Nhu cầu về nguyên liệu khoáng sản ngày càng gia tăng, buộc các doanh nghiệp mở rộng hoạt động. Tuy nhiên, sự gia tăng này cần được cân bằng với bảo vệ và quản lý môi trường bền vững.

II. Tác động môi trường của hoạt động khai thác đá

Khai thác đá vôi tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, bao gồm ô nhiễm không khí, nước, đất và tiếng ồn. Quá trình nổ mìn, khai thác và vận chuyển phát sinh lượng lớn bụi, khí thải và rác thải. Nước thải từ các hoạt động chế biến đá chứa hàm lượng cao các chất ô nhiễm, gây ô nhiễm nguồn nước địa phương. Các công trình mỏ để lại hiện trường ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái. Tác động cộng hưởng từ nhiều mỏ cạnh nhau làm trầm trọng hóa tình hình ô nhiễm môi trường.

2.1. Ô nhiễm không khí và bụi mịn

Bụi từ khai thác đá là nguồn ô nhiễm chính, phát sinh từ nổ mìn, khai thác, tải vận chuyển. Bụi mịn (PM2.5, PM10) bay xa vượt ra ngoài ranh giới mỏ, ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư lân cận. Các chất thải khí từ máy móc, phương tiện giao thông gây ô nhiễm thêm. Giám sát chất lượng không khí cho thấy nồng độ bụi nhiều nơi vượt quá quy chuẩn Việt Nam.

2.2. Ô nhiễm nước và đất

Nước thải từ chế biến đá chứa lơ lửng vật, chất hữu cơ và hóa chất, xâm nhập vào nguồn nước ngầm. Rác thải, đất đá thải tại mỏ gây ô nhiễm nước mặt và có nguy cơ ô nhiễm đất. Quản lý nước thải kém hiệu quả tại nhiều mỏ, không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.

2.3. Tiếng ồn và rung động

Hoạt động nổ mìn tạo ra tiếng ồn vượt mức cho phép, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng địa phương. Rung động từ nổ mìn có thể làm hư hại công trình dân dụng lân cận. Các thiết bị khai thác và vận chuyển cũng phát sinh tiếng ồn liên tục.

III. Các vấn đề trong quản lý môi trường khai thác đá

Mặc dù có khung pháp luật về bảo vệ môi trường khá hoàn thiện, quản lý môi trường khai thác đá tại Thanh Liêm vẫn tồn tại nhiều vấn đề. Năng lực quản lý nhà nước còn hạn chế với lực lượng thanh tra, kiểm tra thiếu thốn. Ý thức thực hiện pháp luật của một số doanh nghiệp chưa cao, không thực hiện đầy đủ cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Việc cấp phép khai thác thiếu chặt chẽ, hệ thống quản lý vật liệu nổ công nghiệp còn lỏng lẻo. Hiệu quả thanh tra, kiểm tra không đủ để ngăn chặn vi phạm. Thiếu sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không bị xử lý nghiêm khắc.

3.1. Bất cập về chính sách và pháp luật

Hồ sơ xin cấp phép khai thác không được kiểm duyệt kỹ lưỡng, để lọt qua các dự án không đáp ứng yêu cầu môi trường. Quản lý vật liệu nổ công nghiệp chưa đủ chặt chẽ, khó kiểm soát sử dụng. Các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường thường không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ.

3.2. Năng lực quản lý nhà nước và ý thức doanh nghiệp

Năng lực quản lý tại cấp huyện, tỉnh còn yếu, thiếu trang thiết bị và nhân lực để giám sát khai thác. Ý thức bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp chưa cao, chỉ mong tối đa hóa lợi nhuận. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa hiệu quả, gây ra tình trạng quản lý lơi lỏng.

IV. Giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường khai thác đá

Để đảm bảo quản lý môi trường bền vững trong khai thác đá vôi tại Thanh Liêm, cần áp dụng một hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm cả công tác quản lý lẫn công nghệ. Giải pháp quản lý tập trung vào tăng cường thanh tra, kiểm tra, nâng cao ý thức doanh nghiệp và năng lực cán bộ quản lý. Giải pháp công nghệ bao gồm ứng dụng công nghệ sạch, hệ thống xử lý chất thải hiệu quả. Cần xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến, quy định chặt chẽ hơn về cấp phép và giám sát. Đặc biệt, phục hồi môi trường sau khai thác phải được thực hiện đầy đủ và kịp thời theo đúng đề án đã phê duyệt.

4.1. Giải pháp quản lý và cải thiện chính sách

Tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất tại các mỏ khai thác. Nâng cao ý thức pháp luật của doanh nghiệp thông qua tuyên truyền, giáo dục. Quy định chặt chẽ hơn về hồ sơ cấp phép, yêu cầu các báo cáo đánh giá tác động môi trường phải có chất lượng cao. Tăng cường quản lý vật liệu nổ công nghiệp, giảm tác động từ hoạt động nổ mìn.

4.2. Giải pháp công nghệ và xử lý chất thải

Ứng dụng công nghệ khai thác sạch để giảm phát sinh bụi và nước thải. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải hiệu quả tại mỗi mỏ, đảm bảo đạt quy chuẩn trước khi xả. Lắp đặt thiết bị phun nước để kiểm soát bụi, xây dựng hàng rào che phủ xung quanh mỏ. Thực hiện phục hồi, cải tạo môi trường sau khai thác theo kế hoạch được duyệt.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về tỉnh Hà Nam 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Hà Nam là một trong những tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, có tọa độ địa lý 20o21’- 21045 vĩ độ Bắc, 105o45’-106010 kinh độ Đông.

Hà Nam được bao quanh bởi thành phố Hà Nội ở phía Bắc và Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình ở phía Tây, tỉnh Nam Định ở phía Nam, tỉnh Thái Bình ở phía Đông và tỉnh Hưng Yên ở phía Đông Bắc. Tỉnh Hà Nam có 1 thành phố và 5 huyện, bao gồm thành phố Phủ Lý, các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục Thanh Liêm và Kim Bảng [13]. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam [13] Hà Nam án ngữ những tuyến giao thông đường bộ, đường sắt huyết mạch nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Nam như Quốc lộ 1A, đường cao tốc phía Đông, đường sắt Bắc - Nam; các trục đường ngang nối các tỉnh nằm ở phía Tây và các tỉnh 4 nằm ở phía Đông của tỉnh, bao gồm Quốc lộ 21, 21B, 38 và Tỉnh lộ 971. Chảy qua tỉnh Hà Nam là các sông lớn tự nhiên như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang và các sông do con người tạo ra như sông Nhuệ, sông Sắt, sông Nông Giang, sông Ninh Giang.

Thuận lợi về vị trí địa lý là cửa ngõ phía Nam vào Hà Nội và điều kiện giao thông đường bộ, đường thủy vô cùng thuận lợi sẽ là tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá với các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội. Địa hình Hà Nam có diện tích tự nhiên là 859,5km 2, đứng thứ 62/63 tỉnh thành. Địa hình Hà Nam dốc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và có sự tương phản rõ ràng, bao gồm các dạng: dạng địa hình núi đá vôi vách đứng, dạng địa hình đồng bằng có nhiều ô trũng và dạng đồi thấp xâm thực, đỉnh tròn nằm xen kẽ tại vùng chuyển tiếp của 2 dạng địa hình trên [13]. * Địa hình núi đá vôi: Chiếm khoảng 8%÷12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; phân bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam của 2 huyện Thanh Liêm và Kim Bảng là 2 huyện nằm ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh.

Các núi đá vôi tập trung thành dải, bị phân cắt mạnh, sườn dốc đứng, nhiều đỉnh nhọn, độ cao tuyệt đối lớn nhất +419m. Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp khai khoáng làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng. * Địa hình đồi thấp: Chiếm khoảng 2%÷3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; bao gồm các dải đồi xâm thực, bóc mòn, dạng bát úp nằm xen kẽ hoặc ven rìa địa hình núi đá vôi; phân bố thảnh một dải (tại khu vực các xã Thanh Lưu, xã Liêm Sơn – huyện Thanh Liêm) hoặc đứng độc lập (tại các xã Thanh Bình, Thanh Lưu – huyện Thanh Liêm, xã Đọi Sơn – huyện Duy Tiên). Dạng địa hình đồi thấp có một đặc điểm chung là đỉnh tròn, sườn thoải khoảng 10o÷15o, bị bóc mòn.

Đây là vùng thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp. 5 * Địa hình đồng bằng: Chiếm khoảng 85%÷12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; phân bố trên một diện tích rộng lớn ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân, thành phố Phủ Lý và một phần thuộc các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm. Đây là vùng tập trung và phát triển các cụm dân cư nông thôn xen kẽ các vùng sản xuất nông nghiệp kiểu làng xã điển hình của vùng nông thôn Đồng bằng Sông Hồng. Địa hình khá bằng phẳng, có cao độ tuyệt đối +4m ở nơi cao nhất và +1 ở vùng trũng nhất.

Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá dày đặc, hầu hết đều bắt nguồn từ các tỉnh khác, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản…, nhưng nhạy cảm với lũ lụt, ngập úng về mùa mưa và nhạy cảm với chất thải từ hoạt động công nghiệp, khai khoáng. Khí hậu Khí hậu Hà Nam tiêu biểu cho vùng Đồng bằng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm biến tính; mùa Hè nóng, mưa nhiều và mùa Đông lạnh, ít mưa [2]. Về lượng mưa: Hà Nam thuộc khu vực có lượng mưa trung bình khá. Lượng mưa trung bình trong những năm gần đây dao động từ 1.890 mm/năm, chia ra hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô.

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Về nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm vào những năm gần đây dao động trong khoảng 23,0 -25,00 C. Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 6, 7, 8, 9, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm thường là tháng 12, 1, 2. Nhiệt độ trung bình năm cao nhất là 25,00C (năm 2015), nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 23,00C (năm 2011).

Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 12,7 0C (tháng 1/2011), nhiệt độ trung bình tháng cao nhất lên đến 31,00C (tháng 6/2015). Về nắng và bức xạ: Tổng số giờ nắng trong năm tại Hà Nam thấp nhất năm 2011 là 1.132,3 giờ và cao nhất trong năm 2015 là 1478 giờ nắng, mùa hè chiếm khoảng 82% số giờ nắng cả năm, các tháng có giờ nắng cao là tháng 5đến tháng 10. 6 Bức xạ mặt trời là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nhiệt trong vùng, ảnh hưởng đến quá trình phát tán cũng như biến đổi các chất ô nhiễm. Tầng bức xạ trung bình hàng ngày ở Hà Nam là 100-120 kcal/cm 2.

Các tháng có bức xạ cao nhất là các tháng mùa hè và thấp nhất là các tháng mùa Đông. Về độ ẩm: Nhìn chung độ ẩm không khí trung bình hàng năm khu vực Hà Nam tương đối lớn, dao động từ 81 – 84%. Diễn biến độ ẩm phụ thuộc vào lượng mưa nên trong 1 năm thường có 2 thời kỳ, một thời kỳ độ ẩm cao và một thời kỳ độ ẩm thấp. Về gió: Tại khu vực Hà Nam, trong năm có 2 hướng gió chính.

Mùa đông có gió hướng bắc và đông bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa hè có gió Nam và Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 8. Khu vực tỉnh Hà Nam chịu ảnh hưởng của bão tương tự như vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong những năm gần đây số lượng cơn bão ảnh hưởng đến tỉnh không nhiều, tuy nhiên đang có chiều hướng tăng lên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên trái đất.

Tốc độ gió trung bình trong năm khoảng 2,5 m/s. Điều kiện thủy văn Dòng chảy nước mặt từ Sông Hồng, Sông Đáy, Sông Nhuệ hàng năm đưa vào tỉnh Hà Nam khoảng 87,6 tỷ m3 nước. Dòng chảy ngầm chuyển qua địa bàn cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổ sung nước ngầm từ các vùng khác. Riêng khu vực huyện Thanh Liêm có sông Đáy chảy qua, diện tích lưu vực sông Đáy khoảng 5.800km2, chiều dài dòng sông là 240 km trong đó chiều dài chảy trong địa phận tỉnh Hà Nam là 47km.

Theo báo cáo của Trạm khí tượng thuỷ văn Hà Nam, mực nước sông Đáy tại trạm Phủ Lý như sau [13]: Mực nước kiệt nhất: - 0,14m Mực nước lũ lịch sử: + 4,72m (năm 1985) Mực nước báo động: BĐ1: +2,9m; BĐ2: +3,5m; BĐ3: +4,1m (Theo Quyết định QĐ 632/QĐTTg ngày 10 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ tại Trạm thủy văn Phủ Lý). 7 Lưu lượng nước sông Đáy vào mùa khô khoảng 105m 3/s và vào mùa mưa khoảng 400m3/s. Tài nguyên khoáng sản Hà Nam nằm tiếp giáp giữa vùng đồng bằng sông Hồng và dải đá trầm tích ở phía Tây nên có địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, vừa có vùng bán sơn địa và vùng núi. Vùng đồi núi chiếm khoảng 25,7% diện tích toàn tỉnh, vùng đồng bằng chiếm 74,3% diện tích [15].

Hà Nam là tỉnh có nguồn tài nguyên tương đối phong phú, nhiều chủng loại, được phân bố tập trung ở phía Tây sông Ðáy thuộc hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng. Ðặc biệt nguồn đá vôi làm nguyên liệu cho công nghiệp xi măng, bột nhẹ, đá xây dựng, gạch siêu nhẹ… có trữ lượng khá lớn. Tài nguyên khoáng sản của Hà Nam chủ yếu là đá carbonate. Nguồn đá này cung cấp cho sản xuất xi măng, xây dựng, bột mịn cho xây trát, bột nhẹ thương phẩm.

Đá bán quý (đá vân hồng tím nhạt ở huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, có vỉa cao 60m, dài 30 – 40m, song cũng có vỉa dài tới gần 200m. Đá vân mây da báo ở Thanh Liêm. Đá đen tập trung ở khu vực Bút Sơn. Đất sét với tổng trữ lượng 393,1 triệu tấn (trong đó, đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng 331 triệu tấn; đất sét làm gạch ngói 62 triệu tấn).

Than bùn có trữ lượng trên 11 triệu m³ tại vùng hồ Tam Chúc xã Ba Sao, hồ Trứng xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng (nguyên liệu này có thể làm phân vi sinh và một số chất phụ gia khác). Cát xây dựng ở Hà Nam khá dồi dào, đặc biệt là nguồn cát đen ở bãi ven sông Hồng kéo dài hàng chục km; bãi sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ hàng năm có khả năng cung cấp hàng triệu m³ cho địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận để san lấp và xây dựng. Theo “Báo cáo Quy hoạch khoáng sản chủ yếu đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Hà Nam do Viện Khoa học Địa chất – Khoáng sản đánh giá năm 2012, trữ lượng và chất lượng khoáng sản của tỉnh như sau: Có 26 mỏ đá xi măng ( huyện Kim Bảng 16 mỏ, Thanh Liêm 10 mỏ) với trữ lượng đá vôi xi măng là 3.463,104 triệu m 3); 01 mỏ đá vôi hoá chất, trữ lượng là 32,866 triệu tấn (13,146 triệu m3). 8 Có 22 mỏ sét xi măng (huyện Kim Bảng 4 mỏ, Thanh Liêm 18 mỏ), trữ lượng sét xi măng là 539,640 triệu tấn (359,760 triệu m 3).

Sét xi măng có quy mô, trữ lượng nhỏ hơn nhiều so với đá vôi xi măng. Hầu hết các mỏ sét xi măng có công suất trên 50.000 m3/năm (chiếm 88,72% tổng tài nguyên trữ lượng sét xi măng toàn tỉnh), chất lượng tốt lại nằm trong khu vực quản lý của quốc phòng. Đây là vấn đề cần đặc biệt chú ý trong quản lý, cấp phép khai thác sử dụng hợp lý các loại khoáng sản này, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững công nghiệp sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Có 02 mỏ dolomit tại huyện Kim Bảng.

Trữ lượng dolomit là 53,040 triệu m 3 (132,600 triệu tấn). Có 45 mỏ đá vôi xây dựng (huyện Kim Bảng 20 mỏ, Thanh Liêm 25 mỏ), trữ lượng đá vôi xây dựng là 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ