lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được bố cục thành ba chương có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đáp ứng mức độ nghiên cứu của đề tài: Chƣơng I: Tổng quan về quản lý nhà nƣớc đối với DNNN Trong chương này tác giả khát quát một cách hệ thống một số các khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn như khái niệm DNNN, các loại hình DNNN; vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, quản lý kinh tế đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay: chủ thể, mục tiêu, các chính sách, công cụ, phương pháp, phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đề ra; phân biệt các khái niệm: hoạt động quản lý DNNN và hoạt động quản trị DNNN, chức năng quản lý về kinh tế của Nhà nước và quyền của chủ sở hữu đối với DNNN, quản lý chung và quản lý kinh tế, quản lý kinh tế của Nhà nước, quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ quan nhà - 14 - z nước có chức năng quản lý kinh tế; quản lý đối với DNNN, sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với DNNN. Chƣơng II: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với DNNN Thông qua các chế định của pháp luật hiện hành điều chỉnh việc thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động của DNNN, việc thực hiện quyền sở hữu đối với DNNN, những hiện tượng đã và đang tồn tại trong quản lý DNNN, tác giả phân tích, đánh giá, so sánh với những loại hình doanh nghiệp khác trong xã hội để từ đó làm nổi bật thực trạng quản lý nhà nước đối với DNNN hiện nay. Đặc biệt trong chương này, tác giả tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện hai mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và DNNN. Quan hệ thứ nhất, Nhà nước là chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế.
Quan hệ thứ hai, Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu của DNNN. Tương xứng với hai vị trí của Nhà nước, DNNN cũng bị “đối xử” với hai vị trí khác nhau, thứ nhất DNNN là một đối tượng quản lý của Nhà nước. Thứ hai, DNNN là một pháp nhân kinh tế độc lập thuộc sở hữu của Nhà nước. Trong từng mối quan hệ, tác giả lựa chọn những chế định pháp lý tiêu biểu, cơ bản do Nhà nước ban hành để quản lý DNNN, qua đó kết luận, nhận định thái độ quản lý của Nhà nước.
Thái độ quản lý này được đánh giá là hợp lý nếu nó phù hợp với qui luật kinh tế vốn có của của nền kinh tế thị trường hiện tại và ngược lại. Chƣơng III: Giải pháp và kiến nghị Trong chương này, tác giả đi sâu nghiên cứu những nội dung giải pháp đã và đang được Nhà nước áp dụng trong quá trình đổi mới quản lý đối với DNNN. Trong nhiều giải pháp đang áp dụng, không phải giải pháp nào cũng hợp lý và có thể áp dụng hiệu quả đối với tất cả các DNNN, mà phải tuỳ vào từng điều kiện cụ thể, thực trạng của doanh nghiệp thông qua đánh giá, sắp xếp lại các DNNN. Qua đây, tác giả một lần nữa phản ánh thực trạng quá trình đổi mới DNNN thông qua các giải pháp.
Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ chỉ ra những hạn chế của các giải pháp và hạn chế trong quá trình triển khai các giải pháp. Đồng - 15 - z thời, qua những nội dung đã được nghiên cứu trong chương 2, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm mục đích bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành trong lĩnh vực quản lý DNNN. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1- KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1.1- Doanh nghiệp nhà nƣớc Ở Việt Nam, DNNN ra đời do nhà nước tiếp quản các doanh nghiệp của chính quyền cũ, do quốc hữu hoá của bọn thực dân, tư sản mại bản và tiến hành cải tạo các xí nghiệp tư nhân chuyển thành DNNN. Tuy quốc hữu hoá và cải tạo ra những cơ sở ban đầu rất quan trọng, song quyết định qui mô, tỷ trọng, tốc độ phát triển của DNNN ở nước ta lại liên quan đến mô hình kinh tế.
Với mô hình kế hoạch hoá tập trung, trước hết và trên hết là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó cùng với hàng loạt xí nghiệp quốc doanh ra đời bằng tiếp quản, cải tạo, Nhà nước tiếp tục thành lập mới nhiều DNNN ở hầu hết ở các ngành kinh tế quốc dân tạo thành hệ thống các DNNN phát triển cho đến ngày nay. Theo điều 1 Luật DNNN năm 1995, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do do doanh nghiệp quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Sau đó, Luật DNNN sửa đổi năm 2003 đã mở rộng thêm khái niệm DNNN: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty - 16 - z cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Với khái niệm này, DNNN bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn của các thành phần kinh tế khác (phi nhà nước), và vì vậy DNNN được tổ chức dưới nhiều các hình thức khác so với khái niệm trong Luật DNNN 1995 như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, việc mở rộng khái niệm DNNN và thực chất là mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật DNNN sửa đổi tới các doanh nghiệp sau khi đã áp dụng các biện pháp chuyển đổi có cần thiết hay không còn là vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu. Mục tiêu của việc chuyển đổi các DNNN là nhằm xoá bỏ những hạn chế trong cơ chế quản lý cũ đối với doanh nghiệp, tạo một cơ chế thông thoáng, trao quyền tự chủ kinh doanh thực thụ cho doanh nghiệp chứ không phải là chỉ là sự chuyển đổi hình thức sở hữu thuần tuý và tiếp tục duy trì cơ chế quản lý cũ thông qua việc nắm vốn và cổ phần chi phối.
Công cuộc cải cách DNNN chỉ thành công khi DNNN thực sự là một thực thể kinh doanh hiệu quả, bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Muốn vậy, không có cách gì hơn là phải tách quản lý Nhà nước khỏi doanh nghiệp, trao lại quyền tự chủ kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, không nên mở rộng khái niệm DNNN như trong Luật DNNN sửa đổi 2003. Hơn nữa, trong số các doanh nghiệp mở rộng này, Nhà nước không phải là chủ sở hữu hoàn toàn của doanh nghiệp (ví dụ công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối) mà chỉ là đồng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp.
Do đó, việc coi các doanh nghiệp này là DNNN là không hợp lý và thể hiện sự không bình đẳng với các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế. Do vậy, khái niệm DNNN nên thu hẹp lại ở phạm vi công ty nhà nước như qui định của Luật DNNN sửa đổi, đồng thời hình thành nên một thực thể kinh doanh vốn Nhà nước để thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với DNNN và các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước. Việc thu hẹp khái niệm DNNN sẽ giúp cho các doanh nghiệp thuộc diện mở rộng được giải phóng hoàn toàn cả về cơ chế tổ chức, thành lập, hoạt động và quản lý như hiện nay và có như vậy, các doanh nghiệp này mới thực sự - 17 - z có quyền tự chủ trong kinh doanh. Tuy nhiên để thực hiện được điều này, một thực thể có chức năng kinh doanh vốn nhà nước phải được thiết lập, hình thành để đảm nhiệm vai trò chủ sở hữu.
Thực thể này không thể kiêm nhiệm chức năng quản lý nhà nước, không mang trong nó quyền lực nhà nước mà chỉ thuần tuý là một đơn vị kinh doanh vốn. Còn DNNN theo nghĩa hẹp sẽ bị hạn chế dần về số lượng, tiến tới không thành lập mới và tiếp tục được sắp xếp lại, nếu không thuộc diện phải giữ lại, sẽ được áp dụng các biện pháp chuyển đổi để chuyển sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp và không còn thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật DNNN. Trong khái niệm DNNN hiện hành vẫn còn có điểm chưa thống nhất với các qui định về pháp nhân, như vấn đề về vốn của DNNN. Luật DNNN sửa đổi 2003 qui định vốn của DNNN bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, vốn do DNNN tự huy động và các nguồn vốn khác theo qui định của pháp luật (điều 12) và tài sản của DNNN bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động.
Tại thời điểm thành lập DNNN thì vốn và tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ vốn điều lệ của doanh nghiệp và có nguồn từ ngân sách Nhà nước, điều này phù hợp với qui định tại điều 94 Bộ Luật Dân sự “Pháp nhân có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”. Và khối tài sản này thuộc sở hữu của DNNN do doanh nghiệp thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với khối tài sản sau khi nó được đưa vào doanh nghiệp theo hình thức đầu tư. Có như vậy thì pháp nhân DNNN, mới được tham gia vào các quan hệ, giao dịch dân sự, kinh tế và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và điều này cũng hoàn toàn lô gích với việc xác lập quyền sở hữu của DNNN với tài sản và vốn của nó. Nhưng trái với những nguyên lý cơ bản trên, trong Luật DNNN sửa đổi vẫn coi Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ của DNNN (điều 1).
Với quan niệm trong Luật DNNN sửa đổi, thì sẽ không thể lý giải về mặt pháp lý khi DNNN bị phá sản và Nhà nước chưa thực hiện hết nghĩa vụ góp vốn điều lệ vào DNNN. Vì theo qui định của pháp luật phá sản, trong trường hợp này Nhà nước - 18 - z với tư cách là chủ sở hữu có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ góp vốn hoặc trở thành con nợ của DNNN.