Quản Lý Kinh Tế Của Cơ Quan Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Nhà Nước: Thực Trạng và Kiến Nghị

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò quản lý kinh tế của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, cung cấp giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Luật Học

2004

129
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp khoa học

0.8. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

1.1.1. Doanh nghiệp nhà nước

1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp nhà nước

1.1.3. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế Việt Nam

1.2. Quản lý nhà nước đối với DNNN

1.2.1. Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước

1.2.2. Quản lý nhà nước đối với DNNN

1.3. Phân biệt hoạt động quản lý DNNN và hoạt động quản trị DNNN

1.3.1. So sánh về chủ thể

1.3.2. So sánh về đối tượng

1.3.3. So sánh về mục tiêu

1.3.4. So sánh về hình thức quản lý

1.4. Phân biệt chức năng quản lý về kinh tế của Nhà nước và chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

2.1. Quản lý nhà nước đối với DNNN

2.1.1. Thành lập doanh nghiệp nhà nước

2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước

2.1.3. Tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước

2.1.4. Giải thể doanh nghiệp nhà nước

2.1.5. Phá sản doanh nghiệp nhà nước

2.2. Quyền chủ sở hữu của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước

2.2.1. Cơ chế cơ quan chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước

2.2.2. Thực hiện chức năng chủ sở hữu DNNN của Bộ Tài chính

2.2.3. Đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Những giải pháp

3.1.1. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với DNNN thông qua việc các tổ chức kinh doanh vốn nhà nước

3.1.2. Sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước

3.1.3. Thực hiện các biện pháp làm lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp nhà nước

3.1.4. Cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu DNNN

3.1.5. Phân công, phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước

3.1.6. Công ty hoá doanh nghiệp nhà nước

3.2. Kiến nghị

3.2.1. Hoàn thiện chức năng đại diện sở hữu của Nhà nước

3.2.2. Quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước

3.2.3. Xây dựng củng cố các tổng công ty theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế

3.2.4. Đổi mới hoạt động của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách

3.3. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Kinh Tế Doanh Nghiệp Nhà Nước Hiện Nay

Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương lớn của Đảng. Chủ trương này được thể chế hóa thành các quy định pháp luật, trong đó có Hiến pháp 1992 (sửa đổi). Thực hiện chủ trương này đòi hỏi nỗ lực trong toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý kinh tế. Kể từ khi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thừa nhận và xây dựng ở Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam đã có những khởi sắc đáng phấn khởi. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng đã bộc lộ khá nhiều những điểm bất cập trong cách thức quản lý nền kinh tế nói chung và kinh tế nhà nước nói riêng. Quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước là một trong những bất cập nổi cộm nhất đang được Đảng, Chính phủ và các nhà nghiên cứu khoa học tập trung giải quyết.

1.1. Khái Niệm và Vai Trò của Doanh Nghiệp Nhà Nước

Luận văn tập trung vào doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo nghĩa hẹp. Đó là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước sửa đổi năm 2003 (còn gọi là công ty nhà nước). DNNN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong các ngành và lĩnh vực then chốt. Hiến pháp 1992 (sửa đổi) xác định kinh tế Nhà nước phải được củng cố và phát triển, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

1.2. Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Nhà Nước Bản Chất

Quản lý nhà nước đối với DNNN là một trong những chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Nó thể hiện thái độ của Nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp đặc biệt này. Điều 12 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật”, và trong quản lý DNNN nguyên tắc này cũng được quán triệt và áp dụng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không thể áp dụng cơ chế quản lý đối với DNNN như trước đây.

II. 6 Thách Thức Quản Lý Kinh Tế Doanh Nghiệp Nhà Nước Hiện Nay

Sự bất cập trong quản lý DNNN thể hiện ở nhiều mặt. Chưa tạo được một cơ chế quản lý hợp lý đối với DNNN để đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN. Cơ chế quản lý DNNN chưa thực sự gắn doanh nghiệp với thị trường, vẫn còn tình trạng cơ quan Nhà nước bao cấp, can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN. Chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý DNNN với tư cách chủ sở hữu chưa được phân biệt rõ ràng. Chưa tìm ra được thực thể thực hiện chức năng của chủ sở hữu DNNN một cách hiệu quả. Tư cách pháp lý của DNNN trên lý thuyết và thực tế còn nhiều điểm khác biệt cần phải được làm rõ.

2.1. Yếu Kém Trong Hoạt Động Kinh Doanh của DNNN

Những mặt chưa hợp lý nêu trên đã dẫn tới một thực trạng tất yếu. Thể hiện ở sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của DNNN. Hiệu quả sử dụng vốn nhà nước không cao. Nhiều DNNN không thể đứng vững trong cơ chế thị trường nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước. Tính cạnh tranh của DNNN với các doanh nghiệp khác không cao. Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ra Nghị quyết về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN.

2.2. Thiếu Rõ Ràng Trong Chức Năng Quản Lý và Sở Hữu

Hạn chế lớn nhất của hệ thống quản lý hiện tại là sự vi phạm nguyên tắc độc lập của DNNN (một thực thể kinh doanh độc lập). Chưa tìm ra được thực thể độc lập và cụ thể để thực hiện vai trò chủ sở hữu của DNNN trong nền kinh tế mới – nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính những hạn chế này đã buộc các cơ quan quản lý nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu DNNN phải tạo ra các qui định mang nặng tính thủ tục, rườm rà, phức tạp trong quá trình quản lý DNNN.

III. Cách Sắp Xếp và Đổi Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước Hiệu Quả

Trước thực trạng trên, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ra Nghị quyết về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN. Đây là một cơ sở vô cùng quan trọng, mở ra công cuộc cải cách mạnh mẽ đối với quản lý DNNN trong điều kiện hiện nay. Với những nội dung mới mẻ trong Nghị quyết, không ít những ý tưởng khoa học được phát kiến nhằm thay đổi, cải thiện cách thức quản lý của Nhà nước đối với DNNN, nhưng xem ra đến nay vẫn chưa tìm được lời giải cuối cùng.

3.1. Sắp Xếp Lại Các Doanh Nghiệp Nhà Nước Giải Pháp

Nhà nước cần thực hiện quyền sở hữu đối với DNNN thông qua việc các tổ chức kinh doanh vốn nhà nước. Cần sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện các biện pháp làm lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu DNNN. Phân công, phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước. Công ty hoá doanh nghiệp nhà nước.

3.2. Cổ Phần Hóa và Đa Dạng Hóa Sở Hữu DNNN

Một trong những giải pháp quan trọng là cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu DNNN. Điều này giúp tăng tính minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để đảm bảo quá trình cổ phần hóa diễn ra công khai, minh bạch và hiệu quả.

IV. Hướng Dẫn Hoàn Thiện Cơ Chế Quản Lý Kinh Tế DNNN

Để quản lý kinh tế DNNN hiệu quả, cần hoàn thiện chức năng đại diện sở hữu của Nhà nước. Quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước. Xây dựng củng cố các tổng công ty theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế. Đổi mới hoạt động của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước được xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược “xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

4.1. Hoàn Thiện Chức Năng Đại Diện Sở Hữu Nhà Nước

Cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan đại diện sở hữu nhà nước. Đảm bảo tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN. Tránh tình trạng can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

4.2. Quản Lý Bằng Pháp Luật và Tăng Cường Kiểm Soát

Cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và hiệu quả để điều chỉnh hoạt động của DNNN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kiểm toán đối với DNNN. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí và gây thất thoát vốn nhà nước.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Quản Lý Kinh Tế Doanh Nghiệp Nhà Nước

Luận văn được thực hiện trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu về chức năng quản lý nhà nước đối với kinh tế của các nghiên cứu trước đó. Khảo sát cơ chế quản lý kinh tế của cơ quan Nhà nước đối với DNNN, môi trường pháp lý hiện hành cũng như những xu hướng đổi mới cơ chế quản lý đối với DNNN. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng những số liệu về thực trạng các DNNN đang tồn tại, về ảnh hưởng của việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế đối với DNNN.

5.1. Nghiên Cứu Trường Hợp Thực Tế Trong Ngành Xây Dựng

Luận văn tập trung khảo sát các DNNN hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Đây là một lĩnh vực rộng lớn với số lượng lớn các DNNN (chiếm khoảng 1/3 tổng số các DNNN trong cả nước) và tương ứng với nó là hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Việc nghiên cứu trường hợp thực tế giúp làm rõ những vấn đề và thách thức cụ thể trong quản lý kinh tế DNNN.

5.2. Đánh Giá Tác Động Của Chính Sách Quản Lý Kinh Tế

Luận văn đánh giá tác động của các chính sách quản lý kinh tế đối với hoạt động của DNNN. Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà DNNN phải đối mặt trong môi trường kinh doanh hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp điều chỉnh chính sách phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN.

VI. Tương Lai Quản Lý Kinh Tế Doanh Nghiệp Nhà Nước Việt Nam

Trong tình hình đó, đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các chuyên gia tiếp tục nghiên cứu để tìm ra giải pháp hợp lý nhằm giải quyết vấn đề. Luận văn được thực hiện trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu về chức năng quản lý nhà nước đối với kinh tế của các nghiên cứu trước đó, khảo sát cơ chế quản lý kinh tế của cơ quan Nhà nước đối với DNNN, môi trường pháp lý hiện hành cũng như những xu hướng đổi mới cơ chế quản lý đối với DNNN.

6.1. Xu Hướng Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Kinh Tế DNNN

Cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế để DNNN kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật. Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch và công bằng cho DNNN phát triển.

6.2. Vai Trò Của Nhà Nước Trong Định Hướng Phát Triển DNNN

Nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển DNNN. Hỗ trợ DNNN tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và thị trường. Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho DNNN.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được bố cục thành ba chương có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đáp ứng mức độ nghiên cứu của đề tài: Chƣơng I: Tổng quan về quản lý nhà nƣớc đối với DNNN Trong chương này tác giả khát quát một cách hệ thống một số các khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn như khái niệm DNNN, các loại hình DNNN; vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, quản lý kinh tế đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay: chủ thể, mục tiêu, các chính sách, công cụ, phương pháp, phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đề ra; phân biệt các khái niệm: hoạt động quản lý DNNN và hoạt động quản trị DNNN, chức năng quản lý về kinh tế của Nhà nước và quyền của chủ sở hữu đối với DNNN, quản lý chung và quản lý kinh tế, quản lý kinh tế của Nhà nước, quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ quan nhà - 14 - z nước có chức năng quản lý kinh tế; quản lý đối với DNNN, sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với DNNN. Chƣơng II: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với DNNN Thông qua các chế định của pháp luật hiện hành điều chỉnh việc thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động của DNNN, việc thực hiện quyền sở hữu đối với DNNN, những hiện tượng đã và đang tồn tại trong quản lý DNNN, tác giả phân tích, đánh giá, so sánh với những loại hình doanh nghiệp khác trong xã hội để từ đó làm nổi bật thực trạng quản lý nhà nước đối với DNNN hiện nay. Đặc biệt trong chương này, tác giả tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện hai mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và DNNN. Quan hệ thứ nhất, Nhà nước là chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế.

Quan hệ thứ hai, Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu của DNNN. Tương xứng với hai vị trí của Nhà nước, DNNN cũng bị “đối xử” với hai vị trí khác nhau, thứ nhất DNNN là một đối tượng quản lý của Nhà nước. Thứ hai, DNNN là một pháp nhân kinh tế độc lập thuộc sở hữu của Nhà nước. Trong từng mối quan hệ, tác giả lựa chọn những chế định pháp lý tiêu biểu, cơ bản do Nhà nước ban hành để quản lý DNNN, qua đó kết luận, nhận định thái độ quản lý của Nhà nước.

Thái độ quản lý này được đánh giá là hợp lý nếu nó phù hợp với qui luật kinh tế vốn có của của nền kinh tế thị trường hiện tại và ngược lại. Chƣơng III: Giải pháp và kiến nghị Trong chương này, tác giả đi sâu nghiên cứu những nội dung giải pháp đã và đang được Nhà nước áp dụng trong quá trình đổi mới quản lý đối với DNNN. Trong nhiều giải pháp đang áp dụng, không phải giải pháp nào cũng hợp lý và có thể áp dụng hiệu quả đối với tất cả các DNNN, mà phải tuỳ vào từng điều kiện cụ thể, thực trạng của doanh nghiệp thông qua đánh giá, sắp xếp lại các DNNN. Qua đây, tác giả một lần nữa phản ánh thực trạng quá trình đổi mới DNNN thông qua các giải pháp.

Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ chỉ ra những hạn chế của các giải pháp và hạn chế trong quá trình triển khai các giải pháp. Đồng - 15 - z thời, qua những nội dung đã được nghiên cứu trong chương 2, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm mục đích bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành trong lĩnh vực quản lý DNNN. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1- KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1.1- Doanh nghiệp nhà nƣớc Ở Việt Nam, DNNN ra đời do nhà nước tiếp quản các doanh nghiệp của chính quyền cũ, do quốc hữu hoá của bọn thực dân, tư sản mại bản và tiến hành cải tạo các xí nghiệp tư nhân chuyển thành DNNN. Tuy quốc hữu hoá và cải tạo ra những cơ sở ban đầu rất quan trọng, song quyết định qui mô, tỷ trọng, tốc độ phát triển của DNNN ở nước ta lại liên quan đến mô hình kinh tế.

Với mô hình kế hoạch hoá tập trung, trước hết và trên hết là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó cùng với hàng loạt xí nghiệp quốc doanh ra đời bằng tiếp quản, cải tạo, Nhà nước tiếp tục thành lập mới nhiều DNNN ở hầu hết ở các ngành kinh tế quốc dân tạo thành hệ thống các DNNN phát triển cho đến ngày nay. Theo điều 1 Luật DNNN năm 1995, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do do doanh nghiệp quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.

Sau đó, Luật DNNN sửa đổi năm 2003 đã mở rộng thêm khái niệm DNNN: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty - 16 - z cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Với khái niệm này, DNNN bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn của các thành phần kinh tế khác (phi nhà nước), và vì vậy DNNN được tổ chức dưới nhiều các hình thức khác so với khái niệm trong Luật DNNN 1995 như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, việc mở rộng khái niệm DNNN và thực chất là mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật DNNN sửa đổi tới các doanh nghiệp sau khi đã áp dụng các biện pháp chuyển đổi có cần thiết hay không còn là vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu. Mục tiêu của việc chuyển đổi các DNNN là nhằm xoá bỏ những hạn chế trong cơ chế quản lý cũ đối với doanh nghiệp, tạo một cơ chế thông thoáng, trao quyền tự chủ kinh doanh thực thụ cho doanh nghiệp chứ không phải là chỉ là sự chuyển đổi hình thức sở hữu thuần tuý và tiếp tục duy trì cơ chế quản lý cũ thông qua việc nắm vốn và cổ phần chi phối.

Công cuộc cải cách DNNN chỉ thành công khi DNNN thực sự là một thực thể kinh doanh hiệu quả, bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Muốn vậy, không có cách gì hơn là phải tách quản lý Nhà nước khỏi doanh nghiệp, trao lại quyền tự chủ kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, không nên mở rộng khái niệm DNNN như trong Luật DNNN sửa đổi 2003. Hơn nữa, trong số các doanh nghiệp mở rộng này, Nhà nước không phải là chủ sở hữu hoàn toàn của doanh nghiệp (ví dụ công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối) mà chỉ là đồng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp.

Do đó, việc coi các doanh nghiệp này là DNNN là không hợp lý và thể hiện sự không bình đẳng với các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế. Do vậy, khái niệm DNNN nên thu hẹp lại ở phạm vi công ty nhà nước như qui định của Luật DNNN sửa đổi, đồng thời hình thành nên một thực thể kinh doanh vốn Nhà nước để thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với DNNN và các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước. Việc thu hẹp khái niệm DNNN sẽ giúp cho các doanh nghiệp thuộc diện mở rộng được giải phóng hoàn toàn cả về cơ chế tổ chức, thành lập, hoạt động và quản lý như hiện nay và có như vậy, các doanh nghiệp này mới thực sự - 17 - z có quyền tự chủ trong kinh doanh. Tuy nhiên để thực hiện được điều này, một thực thể có chức năng kinh doanh vốn nhà nước phải được thiết lập, hình thành để đảm nhiệm vai trò chủ sở hữu.

Thực thể này không thể kiêm nhiệm chức năng quản lý nhà nước, không mang trong nó quyền lực nhà nước mà chỉ thuần tuý là một đơn vị kinh doanh vốn. Còn DNNN theo nghĩa hẹp sẽ bị hạn chế dần về số lượng, tiến tới không thành lập mới và tiếp tục được sắp xếp lại, nếu không thuộc diện phải giữ lại, sẽ được áp dụng các biện pháp chuyển đổi để chuyển sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp và không còn thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật DNNN. Trong khái niệm DNNN hiện hành vẫn còn có điểm chưa thống nhất với các qui định về pháp nhân, như vấn đề về vốn của DNNN. Luật DNNN sửa đổi 2003 qui định vốn của DNNN bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, vốn do DNNN tự huy động và các nguồn vốn khác theo qui định của pháp luật (điều 12) và tài sản của DNNN bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động.

Tại thời điểm thành lập DNNN thì vốn và tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ vốn điều lệ của doanh nghiệp và có nguồn từ ngân sách Nhà nước, điều này phù hợp với qui định tại điều 94 Bộ Luật Dân sự “Pháp nhân có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”. Và khối tài sản này thuộc sở hữu của DNNN do doanh nghiệp thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với khối tài sản sau khi nó được đưa vào doanh nghiệp theo hình thức đầu tư. Có như vậy thì pháp nhân DNNN, mới được tham gia vào các quan hệ, giao dịch dân sự, kinh tế và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và điều này cũng hoàn toàn lô gích với việc xác lập quyền sở hữu của DNNN với tài sản và vốn của nó. Nhưng trái với những nguyên lý cơ bản trên, trong Luật DNNN sửa đổi vẫn coi Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ của DNNN (điều 1).

Với quan niệm trong Luật DNNN sửa đổi, thì sẽ không thể lý giải về mặt pháp lý khi DNNN bị phá sản và Nhà nước chưa thực hiện hết nghĩa vụ góp vốn điều lệ vào DNNN. Vì theo qui định của pháp luật phá sản, trong trường hợp này Nhà nước - 18 - z với tư cách là chủ sở hữu có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ góp vốn hoặc trở thành con nợ của DNNN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản Lý Kinh Tế Doanh Nghiệp Nhà Nước: Thực Trạng và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Tác giả phân tích những thách thức hiện tại và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách và đổi mới trong quản lý để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích, từ việc nhận diện các vấn đề cụ thể đến các chiến lược cải cách cần thiết. Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước điều kiện tất yếu để việt nam gia nhập wto, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn phân tích một số bất cập trong xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hóa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc định giá doanh nghiệp nhà nước. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tăng cường công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng mang đến những góc nhìn bổ ích về quản lý trong bối cảnh doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý kinh tế doanh nghiệp tại Việt Nam.