MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài KPC Hà Nội ra đời và phát triển cùng với lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội có đặc trưng về hình thái đô thị, góp phần làm nên bản sắc riêng của cấu trúc không gian đô thị Hà Nội lịch sử. Trong cấu trúc đô thị Thăng Long - Hà Nội lịch sử, KPC là khu phố thị có hình thái không gian KTCQ không theo quy tắc đối xứng nghiêm ngặt như khu vực Hoàng thành. Vẻ tự nhiên của KPC Hà Nội thể hiện ở sự không lặp lại về hình thái KTCQ, bên cạnh sự đa dạng của các hoạt động của các cư dân.
Từ năm 2004 KPC Hà Nội được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di sản Quốc gia [3] Những năm gần đây, trước tốc độ đô thị hóa quá nhanh, có thể nói chưa từng có trong lịch sử đã và đang diễn ra ở nước ta, lại trong điều kiện hệ thống các văn bản pháp quy về quy hoạch, kiến trúc và bảo tồn di sản chưa đồng bộ và hoàn chỉnh. Di sản đô thị, trong đó có không gian KTCQ KPC Hà Nội đang bị biến dạng nghiêm trọng, làm mất đi những giá trị văn hóa kiến trúc truyền thống. Đó chính là mâu thuẫn thường trực giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại đối với bất kỳ đất nước nào trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản đô thị, từ lâu đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào thực tiến.
Quan điểm nghiên cứu về di sản kiến trúc đô thị đã trải qua nhiều giai đoạn. Nửa đầu thế kỷ XX, quan điểm phát triển lấn át bảo tồn trong quy hoạch và kiến trúc. Điều đó được thể hiện trong các Hiến chương của Đại hội quốc tế kiến trúc hiện đại (CIAM) khi đề cao Chủ nghĩa công năng. [68] Phải đến năm 1964, Hiến luan an 2 chương Venice xác định nền tảng của công tác bảo tồn di sản đô thị hiện đại trên thế giới.
[101] Ở Việt Nam, trong hơn 30 năm tiến hành công cuộc Mở cửa, Đổi mới nền kinh tế, cách tiếp cận mới về di sản đô thị theo tinh thần của Hiến chương Venice và các Hiến chương quốc tế khác đã từng bước được vận dụng. Trên cơ sở đó công tác quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di sản đô thị, trong đó có quản lý không gian KTCQ KPC Hà Nội đang có những thay đổi căn bản. Trong nghiên cứu, thiết kế và quản lý KTCQ KPC Hà Nội, đó là sự chuyển hướng từ tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật và sử dụng viện trợ quốc tế sang phát huy nội lực trong nước, trong đó có sự hưởng ứng và tham gia trực tiếp của cộng đồng cư dân. Bởi vì, cộng đồng chính là chủ nhân đích thực của các không gian KTCQ.
Trên thực tế, công tác quản lý KTCQ KPC Hà Nội những năm gần đây đã có những thành công bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, trước tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, theo đó là các chức năng mới theo hướng hội nhập kinh tế và văn hóa quốc tế, cùng với sự thay đổi các thành phần của cộng đồng dân cư,… tất cả ảnh hưởng trực tiếp đến không gian KTCQ KPC Hà Nội. Công tác quản lý KTCQ KPC Hà Nội, vì thế đang đối diện với những thách thức mới và cần thiết có sự đổi mới để đáp ứng mục tiêu vừa bảo tồn vừa phát huy hiệu quả nhất giá trị của di sản kiến trúc đô thị trong đời sống hiện đại. Trong bối cảnh ấy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài luận án để nghiên cứu là “Quản lý kiến trúc cảnh quan khu phố cổ Hà Nội với sự tham gia của cộng đồng” với mong muốn góp phần nhỏ trong sự nghiệp lớn là phát triển KPC Hà Nội hiện đại và bản sắc.
Mục đích nghiên cứu Đề xuất các giải pháp quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự tham gia trực tiếp và hiệu quả của cộng đồng dân cư. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tƣợng nghiên cứu: Quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ. Đối tượng nghiên cứu là sự tham gia của cộng đồng.
Đối tượng quản lý là kiến trúc cảnh quan khu phố cổ Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Là toàn bộ KPC Hà Nội với diện tích gần 100 Ha thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, theo Quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30/3/1995 của Bộ Xây dựng: Phía Bắc là phố Hàng Đậu, phía Tây là phố Phùng Hưng, phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng, phía Đông đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật. Ngoài phạm vi trực tiếp đã được xác định như ở trên, các yếu tố tự nhiên liên quan tới vùng cận biên KPC Hà Nội, có tính liên thuộc không thể tách rời với KPC như, cảnh quan khu vực sông Hồng cũng được xem xét.2) - Về thời gian: Nội dung luận án tập trung vào giai đoạn từ 1954 đến 2045 theo Kế hoạch 63/KH-UBND ngày 26 tháng 3 năm 2020 về lập “Quy hoạch thành phố Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045”của UBND Thành phố Hà Nội. Đây cũng là mốc kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước.
luan an 4 Hình 1.1: Vị trí KPC Hà Nội [4].2: Mặt bằng KPC trong quan hệ với khu vực sông Hồng và khu phố trung tâm thành phố Hà Nội [10]. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án gồm các nội dung: 1. Nhận diện đặc điểm và giá trị KTCQ và thực trạng quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ. Tham khảo các lý luận và kinh nghiệm thế giới về sự TGCĐ trong quản lý để vận dụng phù hợp với thực tế quản lý KTCQ KPC Hà Nội.
Xác định nội dung quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự tham gia hiệu quả của cộng đồng. Đề xuất những giải pháp về sự tham gia trực tiếp và hiệu quả của cộng đồng trong quản lý KTCQ KPC Hà Nội. Kiến nghị quy chế quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.1 Phƣơng pháp khảo sát hiện trạng: Đây là tập hợp các phương pháp nhằm thu thập thông tin, dữ liệu và tài liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu.
Đó là: Khảo sát thực địa; Vẽ ghi; Chụp ảnh hiện trạng KPC Hà Nội; Nghiên cứu tài liệu, tư liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án. Phƣơng pháp phân tích hình thái đô thị: Vận dụng phương pháp phân tích hình thái học đô thị trong trường hợp KPC Hà Nội là để hiểu được quá trình chuyển hóa hình thái KTCQ KPC Hà Nội qua các giai đoạn phát triển. Nghĩa là để nhận diện được các quy luật chuyển hóa và giá trị của cấu trúc KTCQ KPC Hà Nội. Đó là những yếu tố quan trọng nhất để đề xuất can thiệp hiệu quả trong công tác quản lý KTCQ KPC Hà Nội.
Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp: Đây là các phương pháp quan trọng dùng để phân tích các thông tin, số liệu, tư liệu và tài liệu liên quan đến đề tài đã thu thập được. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ. Phƣơng pháp so sánh: Phương pháp so sánh là để đối chiếu các giải pháp quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ được đề xuất với các tiêu chí đánh giá, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn xây dựng quốc gia.5 Phƣơng pháp tham vấn chuyên gia: Là phương pháp nhằm kiểm chứng các kết quả nghiên cứu thông qua đánh giá của các chuyên gia. Tham vấn chuyên gia được tiến hành trực tiếp và gián tiếp.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6.1 Ý nghĩa khoa học: Nhận diện giá trị đặc trưng của KTCQ cùng những đặc điểm và khả năng tham gia của cộng đồng trong quản lý KTCQ KPC Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất các mức độ TGCĐ phù hợp với đặc điểm của cộng đồng cư dân để nâng cao hiệu quả tham gia trực tiếp của cộng đồng trong công tác quản lý KTCQ KPC Hà Nội. Đây là các kết quả có ý nghĩa khoa học, bổ sung vào lý luận về sự TGCĐ trong quản lý KTCQ - một lĩnh vực còn mới ở nước ta.2 Ý nghĩa thực tiễn: Các giải pháp quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ, nhất là về đổi mới bộ máy và mô hình quản lý KTCQ, trong đó có mô hình cộng đồng tự quản là những kết quả có tính khả thi đối với trường hợp KPC Hà Nội. Kết luan an 7 quả này có giá trị tham khảo tốt trong công tác tư vấn, thiết kế và quản lý KTCQ và có thể áp dụng cho các trường hợp khác tại các đô thị ở nước ta.
Đó là ý nghĩa thực tiễn của luận án. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của đề tài Trên cơ sở phân tích, đánh giá quá trình quản lý phát triển KTCQ KPC Hà Nội qua các giai đoạn, trong đó chú trọng đến sự TGCĐ, luận án đã đạt được một số kết quả chính: - Nhận diện giá trị KTCQ và thực trạng TGCĐ trong quản lý KTCQ KPC Hà Nội. - Xây dựng cơ sở khoa học về quản lý KTCQ và về mức độ TGCĐ trong quản lý KTCQ phù hợp với đặc điểm phát triển của KPC Hà Nội. - Đổi mới mô hình quản lý KTCQ KPC Hà Nội với sự TGCĐ, trong đó có mô hình tổ chức cộng đồng tự quản.
- Xây dựng quy chế quản lý KTCQ phù hợp với đặc điểm phát triển của KPC Hà Nội. Các khái niệm và thuật ngữ Các khái niệm và thuật ngữ được sử dụng trong luận án là: Đô thị: Ðô thị, theo Luật Quy hoạch đô thị 2015, Ðiều 3: “Ðô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. “[42] Di tích và di sản: Di tích trong đó có di tích tích kiến trúc là những đối tượng có giá trị kiệt xuất về các phương diện lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc luan an 8 hoặc các giá trị khác cần được bảo tồn nguyên vẹn và lâu dài Di tích là đối tượng được bảo tồn theo Luật di sản.