Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Tổng quan về những nghiên cứu ngoài nước Vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi nền kinh tế thế giới bắt đầu mang tính cạnh tranh dữ dội và phụ thuộc lẫn nhau thì tri thức đã trở thành động lực thúc đẩy chính cho sự phát triển của mỗi quốc gia.
Hoạt động của các cơ sở giáo dục được đưa ra bàn luận và đánh giá, điều này dẫn đến khái niệm về chất lượng giáo dục trở thành mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực quản lí giáo dục (Nguyễn Lộc, 2010). Hiện nay, hoạt động KĐCLGD đã trở nên khá phổ biến ở nhiều nước. Trên thế giới có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia đảm bảo và KĐCLGD. Trong đó, những nước có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời như Mỹ, Anh và cũng có những nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ví dụ: Thái Lan, Malaysia, Campuchia) cũng đã có các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục quốc gia mới thành lập.
Các tổ chức này rất khác nhau. Tuy nhiên, có xu thế chung là các quốc gia ngày một quan tâm nhiều hơn đến hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục và đứng ra thành lập các tổ chức ĐBCL (Phạm Xuân Thanh, 2014). Mỹ được đánh giá là nền giáo dục đại học hàng đầu thế giới với những ngôi trường danh tiếng như Harvard, Princeton, Yale, Pennsylvania, MIT. Một trong những yếu tố chính làm nên thành công này là hệ thống kiểm định chất lượng hoàn chỉnh, thường xuyên đổi mới, đánh giá khách quan và minh bạch thông tin.
KĐCLGD đại học ở Mỹ ra đời từ cuối thế kỷ IXX với sự thành lập của Hiệp hội các trường đại học và trung học vào năm 1885. Sang thế kỷ 20, thông qua các đạo luật giáo dục, Mỹ từng bước thể hiện vai trò trong công tác kiểm định song công việc này vẫn do các trung tâm kiểm định độc lập thực hiện. Để đảm bảo tính chính xác, những trung tâm kiểm định 10 phải được Bộ Giáo dục Mỹ USDE (United States Department of Education) hoặc Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học CHEA (Council for Higher Education Accreditation) công nhận. Tuy nhiên, một số trung tâm kiểm định vẫn hoạt động dù không được hai cơ quan trên công nhận.
Họ có thể là các tổ chức có tên tuổi nhưng không có điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn của USDE hay CHEA. Hiện tại, Mỹ có gần 90 trung tâm được một trong hai hoặc cả hai cơ quan USDE và CHEA công nhận. Những trung tâm này chia thành 4 loại là kiểm định vùng, kiểm định quốc gia, kiểm định theo ngành chuyên ngành và kiểm định theo tôn giáo. Hầu hết kiểm định viên là người trong giới đại học, đảm bảo nguyên tắc đồng nghiệp đánh giá.
Nhờ đó, các quy trình, quy định về kiểm định chất lượng đánh giá đúng thực tế đào tạo tại các trường trên cả nước. Những trung tâm này đã kiểm định cho hơn 7.600 cơ sở đào tạo (có cấp bằng và không cấp bằng) cùng hơn 23.700 chương trình đào tạo. Quy trình kiểm định bao gồm 5 bước. Đầu tiên, trường nghiên cứu tiêu chuẩn của trung tâm kiểm định, tiếp theo chọn cơ quan phù hợp, thường là những trung tâm nằm trong danh sách được USDE và CHEA công nhận.
Sau đó, trường TĐG nội bộ. Tiếp đến, trung tâm tổ chức kiểm định tại hiện trường trước khi thẩm định, xem xét kết quả. Khâu cuối cùng trong KĐCLGD đại học là tái kiểm định và gia hạn kiểm định. Các trung tâm ở Mỹ không có tiêu chí kiểm định chung nhưng đều tập trung việc đánh giá chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra.
Những tiêu chuẩn chính bao gồm sứ mạng, tổ chức và quản lí, chương trình đào tạo, giảng viên, sinh viên, thư viện và các nguồn thông tin, cơ sở vật chất và công nghệ thông tin, tài chính, công khai, tính trung thực, trách nhiệm và đạo đức (Nguyễn Sương, 2017). Ngoài ra, nhóm các tác giả Fairman, Peirce và Harris (2009) với bài viết “Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Maine: Nhận thức về chi phí 11 và lợi phí” (High school accreditation in Maine: Perception of cost and benefits) thuộc trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá giáo dục và Phát triển con người thuộc Đại học Maine - Mỹ. Với công trình này, nhóm tác giả đã trình bày rất rõ quy trình kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Mỹ, gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn và công nhận kiểm định chất lượng thông qua các nghiên cứu điển hình, thực tế từ 40 trường THPT được kiểm định bởi NEASC (The New England Association of School and Colleges). Công trình đã rút ra những kinh nghiệm thực tiễn rất giá trị trong quá trình KĐCLGD trường THPT và đề ra các giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động KĐCLGD trường THPT (Đặng Thị Thùy Linh, 2014).
Sổ tay thực hiện các hướng dẫn ĐBCL của mạng lưới các trường đại học khu vực ASEAN(ASEAN University Network- Quality Assurance Guidelines -2009) đã trình bày rất rõ về mô hình ĐBCL bên trong của các trường đại học thuộc khối ASEAN cũng như quy trình, thủ tục các công đoạn cần thiết trong quá trình TĐG (AUN-QA, 2010). Tổng quan hệ thống KĐCLGD ở Việt Nam Việc hình thành và phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD là một vấn đề còn khá mới ở Việt Nam. Ở cấp quốc gia, có thể nói công tác này thực sự được quan tâm từ đầu năm 2002 bằng việc hình thành một đơn vị chuyên trách về vấn đề này trong Vụ Đại học, sau đó là Cục Khảo thí và KĐCLGD của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống ĐBCL và KĐCLGD liên tục được củng cố và phát triển theo xu thế chung của quốc tế. Tương tự như nhiều nước khác, việc xây dựng một hệ thống đảm bảo và KĐCLGD ở cấp quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam.
Đối với các cơ sở giáo dục, đảm bảo sẽ tổ chức đào tạo có chất lượng và có hiệu quả tương xứng với các điều kiện hiện có của nhà trường, đảm bảo học sinh, sinh viên đại học, trung cấp chuyên nghiệp khi tốt nghiệp sẽ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. 12 Đối với Nhà nước, trước hết hệ thống này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn thực trạng giáo dục trong cả nước; đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người học; đảm bảo rằng hệ thống giáo dục sẽ cung cấp được một lực lượng lao động có năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Hệ thống đảm bảo và KĐCLGD cũng sẽ cung cấp các cơ sở để Nhà nước đưa ra các chính sách đầu tư hiệu quả cho hệ thống giáo dục. Người học có thể biết được khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp sẽ có nhiều cơ hội việc làm, với kết quả đạt được có thể tiếp tục được học cao hơn.
Các nhà tuyển dụng yên tâm khi quyết định tuyển chọn nhân lực lao động. Việc phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD bao gồm cả việc phát triển hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KĐCLGD, xây dựng mô hình phát triển và triển khai thực hiện, tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế vì đây là một công việc còn non trẻ nên cần có những bước đi căn bản từ ban đầu (Phạm Xuân Thanh, 2014). Hiện tại, ở Việt nam đến thời điểm tháng 06/2018 có 5 trung tâm KĐCLGD trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm đánh giá và công nhận trường Đại học đạt chuẩn KĐCLGD gồm các trung tâm sau đây: (1) Trung tâm KĐCLGD - Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam; (2) Trung tâm KĐCLGD - Đại học Quốc gia Hà Nội; (3) Trung tâm KĐCLGD - Đại học Đà Nẵng; (4) Trung tâm KĐCLGD - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; (5) Trung tâm KĐCLGD - Đại học Vinh. Như vậy, hệ thống đảm bảo và KĐCLGD đại học Việt Nam đã được thiết lập đầy đủ theo như mô hình do Mạng lưới Chất lượng Châu Á-Thái Bình Dương (APQN) đề xuất, bao gồm 3 cấu phần: hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường, hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường, và hệ thống các tổ chức kiểm định chất lượng (Nguyễn Hữu Cương, 2017a).
13 Theo thống kê từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến giữa tháng 4/2018, có 250 cơ sở giáo dục đại học, các trường cao đẳng, trung cấp sư phạm đã hoàn thành báo cáo TĐG, được kiểm định. Trong đó có 217 trường đại học, học viện; 113 trường được tổ chức kiểm định chất lượng ĐGN, trong số này có 80 trường đại học được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng. Cụ thể, Trung tâm KĐCLGD - Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU - CEA) ĐGN 48 trường, công nhận 42 trường; Trung tâm KĐCLGD - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (VNU- HCM-CEA) ĐGN 28 trường, công nhận 21 trường; Trung tâm KĐCLGD - Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (CEA-AVU&C) ĐGN 28 trường, công nhận 15 trường; Trung tâm KĐCLGD - Đại học Đà Nẵng (CEA- UD) ĐGN 9 trường, công nhận 2 trường. Ngoài ra, 33 trường cao đẳng, trung cấp sư phạm cũng đã hoàn thành báo cáo TĐG.
106 chương trình, bao gồm 7 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước, 99 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế được đánh giá công nhận (Phan Thảo, 2018). Như vậy, đến giữa tháng 4/2018 đã có 80 cơ sở giáo dục đại học và 01 trường cao đẳng sư phạm được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục bởi tổ chức kiểm định trong nước. 05 cơ sở giáo dục đại học được công nhận chất lượng giáo dục bởi tổ chức đánh giá, kiểm định quốc tế gồm Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); Trường Đại học Bách khoa (Đại học Đà Nẵng), Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) (Phan Thảo, 2018). Năm 2006, Nguyễn An Ninh đã tóm tắt tổng quan phương pháp luận về đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông, xây dựng hệ thống tiêu chí chất lượng giáo dục trường THPT với Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B2004-80-06 “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT và triển khai đánh giá thí điểm tại một số tỉnh, thành phố” (đơn vị chủ trì là Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục).