Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TIẾNG ANH 1. Lý luận chung về quản lý giáo dục 1. Khái niệm quản lý - Chức năng quản lý 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người.
Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý”.
Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý tùy thuộc cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị của nhà quản lý, có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội từ trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [26, Tr.
8 z Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [27, Tr. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8, Tr.
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất: Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng bị quản lý) gồm: con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính,… và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường.
Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật”. - Quản lý là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương 9 z pháp hoạt động cụ thể. Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả. Mặc dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm được.
- Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động. Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống. Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người. Chức năng của quản lý Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản.
Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý, chẳng hạn như cách phân chia chức năng quản lý theo giai đoạn tác động hay phân chia chức năng quản lý theo nội dung quản lý. Tuy vậy, về cơ bản đều thống nhất có 4 chức năng quản lý sau đây: - Kế hoạch hoá: Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và phương pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ đó. Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt được các mục tiêu định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai. Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định rõ mục đích, mục tiêu của một tổ chức và những con đường, thể thức, biện pháp chính để đạt được những mục tiêu đó.
Có 3 nội dung chủ yếu của lập kế hoạch: + Xác định, hình thành mục tiêu 10 z + Xác định và đảm bảo đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu. + Xác định các hoạt động (các biện pháp, giải pháp) cần thiết để đạt mục tiêu. Lập kế hoạch sẽ tạo ra khả năng cho việc điều hành tác nghiệp của hệ thống, làm cho việc kiểm tra được dễ dàng, bởi vì các nhà lãnh đạo hệ thống sẽ không thể kiểm tra được công việc của các cấp dưới nếu không có mục tiêu đã được xác định làm chuẩn mực để đo lường. Căn cứ chủ thể của kế hoạch, có thể chia kế hoạch làm 2 loại: kế hoạch tập thể và kế hoạch cá nhân.
Căn cứ phạm vi kế hoạch, cũng có thể chia kế hoạch làm 2 loại: kế hoạch tổng quát và kế hoạch chi tiết. - Tổ chức: Chức năng tổ chức là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng. Đây là chức năng quan trọng thứ hai của các nhà lãnh đạo hệ thống sau chức năng lập kế hoạch. Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả.
Ứng với những mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc của hệ thống cũng khác nhau. Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức được cấu trúc phù hợp sẽ phát huy được năng lực nực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực. -Lãnh đạo: Các chức năng lập kế hoạch và tổ chức dù đã thực hiện tốt nhưng nếu nó không được vận hành trong thực tiễn quản lý thì cũng không có giá trị gì.
Lãnh đạo là điều khiển / điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con người và tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệmvụ. Lãnh đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh và đi trước. Các nhà lãnh đạo 11 z hành động để giúp một tổ chức đạt được các mục tiêu với sự vận động tối đa các khả năng của tổ chức đó.
Họ không đứng đằng sau tổ chức để đẩy và thúc giục, họ đặt mình trong tổ chức đó khi tạo điều kiện cho sự tiến bộ và động viên tổ chức hoàn thành các mục tiêu đã xác định. - Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý. Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và phải thực hiện chức năng kiểm tra. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo.
Kiểm tra, theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: + Xây dựng các tiêu chuẩn + Đo lường việc thực hiện + Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn (nếu có sự chênh lệnh thì cần điều chỉnh hoạt động) Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu 1. Vai trò của quản lý Quản lý là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển hay trì trệ hoặc diệt vong của mọi tổ chức. Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có hoạt động quản lý: quản lý kinh tế, quản lý giáo dục, quản lý quá trình đào tạo v.