phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trƣờng ĐH. Chƣơng 2: Thực trạng Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trƣờng Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trƣờng ĐH học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dƣơng.
10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động tự học của sinh viên 1. Tự học của sinh viên Học bao hàm trong đó là tự học, để có thể học tập tốt thì ngƣời học phải tự học tập nỗ lực để chiếm lĩnh tri thức khoa học.
Theo tác giả Lƣu Xuân Mới (2000) “Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt đƣợc của cá nhân, từ đó có đƣợc tri thức, kĩ năng, thái độ mới”. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (2002), “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con ngƣời mình”. Về khái niệm tự học có nhiều tác giả đã nghiên cứu và định nghĩa nhƣ sau: - Tác giả Nguyễn Hiến Lê (2007) cho rằng: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không ta không cần biết.
Ngƣời tự học hoàn toàn làm chủ mình. Muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng đƣợc: đó mới là điều kiện quan trọng”. Định nghĩa này tác giả muốn nói tự học do chính NH muốn học, muốn khám phá kiến thức, học có thể ở bất kỳ nơi nào, thời gian nào. - Tự học, trong Từ điển Tiếng Việt có ghi là: “học lấy một mình trong sách chứ không có thầy dạy” (Hoàng Phê, 2000).
Theo định nghĩa này thì tự học đƣợc hiểu là ngƣời học tự mình tìm kiếm nguồn tài liệu nhƣ trong sách, tài liệu, báo chí…để đọc, để học kiến thức từ trong tài liệu, ngƣời thầy của ngƣời tự học là những nội dung trong sách, tài liệu để ngƣời học thu nhận. - Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (2001, tr631) trong “Tuyển tập tác phẩm tự học – Tự giáo dục – tự nghiên cứu” đã viết: “Tự học - là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng 11 hợp.) và khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (nhƣ tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Khái niệm tự học đƣợc định nghĩa với nhiều cách khác nhau, nói lên tự học có vai trò quan trọng trong học tập để có hiệu quả: - Theo tác giả Đặng Hữu Hoạt và Hà Thị Đức (1996): “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH. Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân NH tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chƣơng trình và sách giáo khoa đã quy định”.
Quan điểm này tác giả Đặng Hữu Hoạt và Hà Thị Đức muốn nói trong môi trƣờng ĐH, ngƣời học là một móc xích của quá trình dạy – học; ngƣời học tự học tập dƣới sự tổ chức hƣớng dẫn của nhà giáo dục, cả trong và ngoài lớp học. - Theo tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu (2008): “Tự học của SV ĐH là một hoạt động mà ở đó SV giữ vai trò chủ động, tích cực, tự giác cao trong việc học tập và nghiên cứu nhằm lĩnh hội tri thức khoa học theo một ngành nghề nhất định, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tƣơng ứng để tạo ra sự phát triển về nhân cách của SV ĐH – những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc đáp ứng đƣợc những yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới”. Theo tác giả thì: “Tự học của SV là một quá trình tự nhận thức của SV, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng việc học tập của SV ở trường ĐH để phát triển nhân cách người SV”. Tự học của SV đòi hỏi SV phải tích cực, tự giác, chủ động, độc lập, sáng tạo để hoàn thành mục tiêu học tập.
Tự học của SV mang đặc thù riêng là hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH bao gồm quá trình dạy và học, SV tự học dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời dạy cả trên lớp và ngoài lớp nhằm đạt đƣợc mục tiêu học tập. Hoạt động tự học của sinh viên HĐTH của SV bao hàm trong hoạt động học tập của SV. HĐTH của SV gồm cả hoạt động trên lớp và ngoài lớp. Theo tác giả Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (1992): “Hoạt động học tập của SV là loại hoạt động có mục đích tự giác, có hệ thống động cơ thúc đẩy và có sự tham gia của các quá trình nhận thức từ việc tri giác các thông tin liên quan đến các quá trình tƣ duy phức tạp nhất.
Tất nhiên trong hoạt động đó cũng thể hiện mạnh mẽ quá trình xúc cảm, ý chí và toàn bộ các thuộc tính nhân cách ngƣời SV”. Tác giả muốn nói HĐTH của SV là “quá trình nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, đƣợc chi phối bởi sự tự ý thức về động cơ, mục đích, phƣơng pháp học tập và tận dụng các điều kiện CSVC để phục vụ học tập của SV… để hình thành nhân cách của SV”. Như vậy, HĐTH của SV là quá trình tổ chức nhận thức độc lập, tự phát huy năng lực cá nhân của SV một cách tích cực, tự giác, tự lực nhằm chiếm lĩnh các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để hoàn thiện nhân cách của SV. Cấu trúc của HĐTH của SV mang đậm sắc thái cá nhân, biểu hiện ở: tự xác định mục tiêu tự học, động cơ trong tự học, chiến lƣợc tự học, kỹ năng tự học, tự xác định thời gian tự học, nội dung, nhiệm vụ tự học, sử dụng điều kiện về CSVC, phƣơng tiện tự học phù hợp, tự kiểm tra- đánh giá việc tự học của bản thân.
HĐTH của SV đƣợc diễn ra dƣới sự hƣớng dẫn, định hƣớng của GV cả ở trên lớp và ngoài lớp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu học tập. Quản lý hoạt động tự học của sinh viên 1. Khái niệm quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả định nghĩa về quản lý nhƣ sau: - C.Ăng-ghen (1995) viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc 13 trƣởng”.
Theo quan điểm của C.Ăng-ghen thì “trong quá trình lao động con ngƣời phải có sự phân công, hợp tác với nhau, sự tổ chức phân công lao động đó chính là một chức năng quản lý”. Nhƣ vậy “quản lý là một chức năng xã hội, xuất hiện và phát triển cùng với xã hội”. - Theo tác giả Phạm Minh Hạc (1996, tr32) thì “con ngƣời có vai trò quan trọng trong việc quản lý của một tổ chức, là yếu tố quyết định thành công của một tổ chức”. Để tổ chức đạt đƣợc mục đích, mục tiêu thì ngƣời quản lý phải “quản lý đƣợc các nguồn lực, nhân lực- sử dụng năng lực của cấp dƣới đúng vị trí để phát huy hiệu quả cao trong công việc”.
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo (1997): “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức quản lý) đến khách thể (đối tƣợng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng”. Quản lý theo ý tác giả là “sự tác động của nhà quản lý đến ngƣời chịu sự quản lý trên tất cả các mặt trận kinh tế-văn hóa-xã hội, các văn bản về luật lệ, mang tính pháp quy nhằm làm cho ngƣời bị quản lý thực hiện đúng theo quy định, mục tiêu của tổ chức”. Đây là quan điểm “mang tính ứng dụng cho quy mô tổ chức lớn; nhà nƣớc áp dụng trong quản lý các bộ, ngành, cơ quan”. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989): “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.
Quản lý theo ý kiến tác giả Nguyễn Ngọc Quang là “sự tác động lên đối tƣợng đƣợc quản lý một cách có tổ chức, định hƣớng đƣợc xác định để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức”. - Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000) thì thuật ngữ “Quản lý” đƣợc xác định là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. - Theo Trần Khánh Đức (2010) thì “quản lý là phải nắm rất rõ từng công việc cần giao cho ngƣời khác để hoàn thành nhiệm vụ và đạt mục đích đề ra, ít tốn nguồn lực nhất”. 14 Nhƣ vậy các khái niệm trên đều có nội dung chính là “quản lý giúp cho tổ chức, đơn vị đạt đƣợc các mục tiêu đề ra, quản lý có vai trò quan trọng trong một tổ chức”.
Để tóm lƣợc lại, đề tài dùng khái niệm quản lý của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014): “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.