Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh cấp tiểu học tại trường PTLC H. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh cấp tiểu học tại trường PTLC H.S theo Chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2018. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm ở nước ngoài Triết lý giáo dục về hoạt động trải nghiệm đã xuất hiện từ rất lâu thông qua những công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học, tâm lí học nổi tiếng trên thế giới. Vai trò của trải nghiệm trong giáo dục có lịch sử kết nối với các cuộc tranh luận triết học giữa các nhà duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm. Các nhà duy lý lập luận rằng thông tin thu được thông qua các giác quan của một người là không đáng tin cậy, và kiến thức đáng tin cậy duy nhất là thông tin có được chỉ bằng lý trí.
Các nhà kinh nghiệm lập luận rằng kiến thức có nguồn gốc từ ấn tượng cảm giác theo kinh nghiệm và các khái niệm trừu tượng sẽ không không thể được biết đến nếu không thể trực tiếp trải nghiệm. Năm 1787, nhà triết học người Đức Immanuel Kant đã giải quyết cuộc tranh luận bằng cách lập luận rằng cả tính hợp lý và kinh nghiệm đều có chỗ đứng trong việc xây dựng kiến thức. Thật vậy, tâm trí con người áp đặt trật tự lên kinh nghiệm của thế giới trong quá trình nhận thức nó. Ông lập luận rằng không phải tất cả trải nghiệm đều mang tính giáo dục.
Trải nghiệm có thể được đánh giá là có tính giáo dục nếu chúng dẫn đến sự phát triển về trí tuệ và phẩm chất, đạo đức; và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Công trình của nhà lý thuyết thực địa Kurt Lewin (1890-1947), nhà nhận thức di truyền học Jean Piaget (1896-1980), và nhà giáo dục và nhà hoạt động Paulo Freire (1921-1997) cũng cung cấp nền tảng lý thuyết cho giáo dục kinh nghiệm. Kolb đã xuất bản “Học tập theo kinh nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển”, trong đó phác thảo một chu kỳ cho sự phản ánh. Chu trình bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể, chuyển sang quan sát phản xạ, sau đó đến khái niệm trừu tượng và cuối cùng đến giai đoạn ứng dụng, thử nghiệm tích cực.
Sự phản ánh thường bao gồm việc tái cấu trúc trải nghiệm, tạo mối liên hệ với kiến thức hoặc kỹ năng trước đó, kiểm tra sự hiểu biết và đưa ra quyết định về cách áp dụng kiến thức hoặc kỹ năng trong một tình huống mới. Hiện nay, hoạt động trải nghiệm được hầu hết các nước phát triển quan tâm và thực hiện một cách linh hoạt, giúp học sinh vừa trải nghiệm thực tiễn, vừa học tốt các môn học chính khóa. Giáo dục Nhật Bản chú trọng vào đạo đức-là điều cốt lõi mà một học sinh phải biết đến đầu tiên, đề cao tính tự lập và tinh thần kỷ luật. Giáo dục Nhật Bạn cũng hướng đến tính tự lập cho học sinh, nhấn mạnh “học sinh là trung tâm”, giúp học sinh trải nghiệm kiến thức từ thực tế chứ không phải là nhồi nhét kiến thức, thông qua đó, tăng cường khả năng phản biện cho học sinh, kích thích việc tìm tòi, phát huy sức sáng tạo.
Nền giáo dục Mỹ hướng con người đến tự do, có thể dễ dàng thích nghi với cuộc sống đang biến động hàng ngày, nếu bó buộc học sinh sẽ làm mất tính sáng tạo của trẻ. Các chương trình học tại các trường ở Mỹ rất giàu tính trải nghiệm, kích thích sự phát hiện, khuyến khích trẻ đưa ra tất cả suy nghĩ “xung quanh một câu hỏi”. Giáo dục Đức chú trọng trải nghiệm thực tế, Người Đức cho rằng trói buộc những đứa trẻ trong lớp học mà thiếu tính trải nghiệm thực tế sẽ dẫn đến những sản phẩm bị lỗi thời về mặt nội dung. Những nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm ở trong nước Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà 7 trường gắn liền với xã hội.” Theo nguyên lý giáo dục này, thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu ra đời, trong đó xuất chuẩn của chân lý.
Nhờ có thực tiễn, con người mới có những tri thức mới để tiếp tục học tập, đồng thời kiểm nghiệm được tính đúng sai và giá trị đích thực của tri thức đã tiếp nhận được. Trong các chủ trương, đường lối giáo dục tại Việt Nam cũng đã đề cập đến giáo dục trải nghiệm. Mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được quy định tại điều 27 - Luật Giáo dục 2005 như sau: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Trong Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề cập mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.” Hoạt động trải nghiệm sẽ là môi trường để học sinh vận dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn cuộc sống. Mặc dù đã được nhiều nơi vận dụng, hoạt động trải nghiệm vẫn là một khái niệm mới mẻ, chưa có sự triển khai thống nhất, đồng bộ trong các trường phổ thông. Năm 2015, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ra đời, trong đó xuất hiện khái niệm mới “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo”.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) 8 bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau. Hoạt động TNST thuộc loại tự chọn 2 và dành cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12.
Đến năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT về Chương trình giáo dục phổ thông mới. Trong thông tư, hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thay đổi thành hoạt động trải nghiệm (cấp tiểu học) và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông) và là hoạt động giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Được ban hành kèm theo thông tư là hướng dẫn hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp bao gồm đặc điểm hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; mục yêu và yêu cầu cần đạt của chương trình; nội dung giáo dục; phương pháp tổ chức và loại hình hoạt động; và đánh giá kết quả giáo dục. Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các tác giả luận văn, luận án cũng đưa ra những kết quả nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo hướng tổng hợp lý thuyết, vận dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học một số môn học ở THPT, THCS hay tiểu học, như Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, Kỹ năng xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường trung học của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, Quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở các trường THCS tại thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ của tác giả Phan Thị Việt Hà.
Các tác giả này, thông qua nghiên cứu của 9 mình đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm đối với việc phát triển toàn diện của học sinh. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đều triển khai từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT về Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018.Chính vì vậy, đề tài của luận văn này nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 sẽ không trùng lặp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với trường PTLC H. Những khái niệm cơ bản Trong phần này, tác giả làm rõ các khái niệm cơ bản gồm quản lý, quản lý giáo dục, hoạt động giáo dục, hoạt động trải nghiệm và quản lý hoạt động trải nghiệm. Quản lý Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý do các tác giả trong và ngoài nước đưa ra.
Sau đây là một số quan điểm chính. Frederick Winslow Taylor (1856-1915), cha đẻ của khoa học quản lý, nhận định “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo Mary Parker Follett (1868-1933), người được coi là mẹ đẻ của khoa học quản trị hiện đại, "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác". Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan điểm “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”.