Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm rộng, trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì quan niệm về quản lý cũng khác nhau dựa vào mục đích đạt được trên các lĩnh vực đó. Sau đây là một số khái niệm của các tác giả trong nước và nước ngoài về quản lý.
Khái niệm về quản lý của một số tác giả nước ngoài: Theo H.Koontz : “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [dẫn theo 3,tr. Taylor: “Quản lí là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [dẫn theo 3,tr. Khái niệm về quản lý của một số tác giả trong nước: Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [dẫn theo 9,tr.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định" [dẫn theo 5,tr. 10 Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Quốc Chí : “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[dẫn theo 3,tr. Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì nó cũng là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Quá trình tác động này được thực hiện trong một môi trường cụ thể và nhất quán.
Sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của quản lý đặt ra thông qua các công cụ và phương pháp của nhà quản lý trong môi trường của nó. Như vậy, khái niệm quản lý thường được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có chủ đích, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để nhằm đạt đến những mục tiêu nhất định. Hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục không thực hiện trong các môn học mà được tổ chức thành các hoạt động trải nghiệm riêng theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Mỗi hoạt động trải nghiệm đều mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, bao gồm những kiến thức, kỹ năng khác nhau cho mỗi học sinh.
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân. Học sinh tiểu học 1. Đặc điểm hoạt động học tập ở nhà trường của học sinh tiểu học Động cơ học tập của học sinh tiểu học rất phong phú đa dạng, nhưng chưa bền vững, nhiều khi còn thể hiện sự mâu thuẩn của nó. 11 Thái độ đối với học tập của học sinh tiểu học cũng rất khác nhau.
Tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhưng thái độ sự biểu hiện rất khác nhau, được thể hiện như sau: - Trong thái độ học tập: từ thái độ rất tích cực, có trách nhiệm, đến thái độ lười biếng, thơ ơ thiếu trách nhiệm trong học tập. - Trong sự hiểu biết chung: ở một số em có mức độ phát triển cao, ham học hỏi và có sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau. Nhưng một số em khác thì lại có mức độ phát triển rất kém, tầm hiểu biết hạn chế. - Trong phương thức lĩnh hội tài liệu học tập: từ chỗ có kỹ năng học tập độc lập, có nhiều cách học đến mức hoàn toàn chưa có kỹ năng học tập độc lập, chỉ biết học thuộc lòng từng bài, từng câu, từng chữ.
- Trong hứng thú học tập: từ hứng thú ( biểu hiện rõ rệt đối với một lĩnh vực tri thức nào đó) cho đến mức độ hoàn toàn không có hứng thú nhận thức, dẫn đến việc học hoàn toàn bị gò ép, bắt buộc. Sự phát triển trí tuệ của học sinh tiểu học Ở giai đoạn này, nhận thức cảm tính của học sinh tiểu học thông qua các cơ quan cảm giác của trẻ đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tiểu học thì tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật có màu sắc, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng. Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó.) Nhận thức lý tính của trẻ thông qua hoạt động tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tự duy trực quan hành động.
Hoạt động tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn, ở đầu tiểu học thì tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi còn ở cuối tiểu học 12 tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Ngôn ngữ của trẻ tiểu học đa số là nói thành thạo, đến lớp thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Hình thành và hoàn thiện kỹ năng chú ý có chủ định, khả năng kiểm soát, điều khiển sự chú ý. Trí nhớ của học sinh tiểu học: học sinh lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa.
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường, ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Hoạt động giao tiếp của học sinh tiểu học với bạn bè Học sinh tiểu học chuyển từ tuổi chơi sang tuổi học, quan hệ xã hội của học sinh được mở rộng, vì vậy giao tiếp ở độ tuổi này giúp các em tự tin trong học tập, tự chủ trong quan hệ xã hội, mạnh dạn và tự tin khi tham gia các hoạt động GD và tập thể. Trong mối quan hệ với bạn bè, các em học sinh biết nói lời yêu cầu đề nghị, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng các bạn và bày tỏ thái độ, quan điểm của mình với bạn bè bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và bằng cả việc làm khi cần thiết. Thông qua hoạt động giao tiếp giúp học sinh nhận thức được người khác và bản thân mình, tiếp đó giúp phát triển một số kỹ năng cho các em học sinh như kỹ năng so sánh, phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn bè mình.
Chính vì thế làm phong phú thêm những biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân. Đó chính là ý nghĩa to lớn của sự giao tiếp ở lứa tuổi này đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Xuất phát từ vai trò của hoạt động giao tiếp, đòi hỏi nhà trường, giáo viên cần có nhận thức đúng đắn về kỹ năng giao tiếp và tiến hành giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh đồng thời hướng dẫn 13 và kiểm tra sự quan hệ của các em, tránh tình trạng ngăn cấm, hạn chế sự giao tiếp của lứa tuổi này. Sự phát triển phương thức lĩnh hội của học sinh tiểu học Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển bằng phương thức lĩnh hội.
Song song với việc lĩnh hội, tiếp thu hệ thống tri thức các môn học, các em được học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường GD gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội đó sẽ tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của các em. Chúng không chỉ giúp cho các em có khả năng thích ứng với cuộc sống nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên – lứa tuổi luôn muốn làm người lớn.Leytex đã khắc họa: “ Tuổi tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế.
Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này – sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc” [8]. Quản lí hoạt động trải nghiệm Quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh là sự tác động của chủ thể quản lý tới quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh bao gồm: - Xây dựng nội dung chương trình trải nghiệm - Xây dựng kế hoạch thực hiện, lực lượng thực hiện - Kiểm tra, đánh giá các hoạt động trải nghiệm [12]. Những hình thức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau như: trò chơi, câu lạc bộ, tham quan, dã ngoại, giao lưu, hoạt động xã hội. 14 Tổ chức hoạt động trò chơi Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh nói riêng.