Chương 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động PTTNTT cho trẻ ở trường MN Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động PTTNTT cho trẻ ở các trường MN trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. 5 Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động PTTNTT cho trẻ ở các trường MN trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6 Chương1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.
Nghiên cứu ngoài nước Hiện nay, tai nạn thương tích (TNTT) nói chung và TNTT trẻ em nói riêng đang trở thành một vấn đề nổi bật trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Các quốc gia phối hợp tích cực với các tổ chức Quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) bắt đầu vào cuộc chiến phòng chống TNTT, với hoạt động ưu tiên hàng đầu là phòng chống TNTT trẻ em. Trong vài năm qua, nhiều nghiên cứu, khảo sát đánh giá đã và đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc để giải quyết vấn đề này. Bởi lẽ, trong hoạt động phòng chống TNTT trẻ em thì kinh nghiệm trên thế giới đã cho thấy: “Trong khi còn thiếu các thông tin cơ bản về tuổi, địa phương, nguyên nhân của TNTT thì khả năng và cơ hội để thực hiện các can thiệp có hiệu quả sẽ bị bỏ lỡ và những nỗ lực để ngăn ngừa TNTT sẽ rất chung chung”.
Nghiên cứu về Phòng chống thương tích ở trẻ em và vị thành niên: Một kế hoạch hành động của WHO. Geneva; Tổ chức Y tế thế giới 2006. Công ước về quyền trẻ em, 1989. New York, NY, Liên hợp quốc, 1989.
Theo một báo cáo mới của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), châu Phi chiếm tỉ lệ cao nhất về tử vong do thương tích không chủ ý. Báo cáo cho thấy, tỉ lệ này ở châu Phi cao gấp 10 lần so với các quốc gia có thu nhập cao tại châu Âu và Tây Thái Bình Dương như Úc, Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển và Vương quốc Anh - là những nước có tỉ lệ thương tích trẻ em thấp nhất. Một số chương trình phòng, chống tai nạn thương tích đối với trẻ mầm non tại một số quốc gia như Thụy Điển đã góp phần giảm đáng kể thương tích trẻ em. Năm 2001, mạng lưới trường học quốc tế đã được Viện Karolinska, Thụy Điển thiết lập và được WHO công nhận.
Đến nay, trên thế giới đã có 72 trường học từ Thái Lan, Hồng Kông, New Zealand, Thụy Điển, Cộng hòa Séc, Đài Loan, Hàn 7 Quốc, Nhật Bản, Serbia được công nhận là thành viên mạng lưới trường học quốc tế. Giáo dục kĩ năng phòng, tránh tai nạn thương tích của trẻ mầm non ở một số quốc gia trên thế giới đã tập trung vào các can thiệp phòng, tránh thương tích bằng các chiến lược về giáo dục. Giáo dục có thể trang bị cho các giáo viên và phụ huynh những công cụ để giảm thương tích ở trẻ mầm non. Kiến thức là nền tảng để giúp chuẩn bị và hướng dẫn phụ huynh, người chăm sóc và các cơ sở có những lựa chọn tốt hơn cho sức khoẻ và an toàn của trẻ.
Ngoài việc nâng cao kiến thức và kĩ năng, giáo dục về thương tích ở trẻ mầm non có thể giúp người chăm sóc hay cha mẹ trẻ thực hiện các bước cần thiết để tạo ra môi trường an toàn hơn cho trẻ không chỉ ở trường học mà cả ở nhà, nơi vui chơi và trong khi đi trên đường.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như những thất bại của 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của một Hiệu trưởng. Cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn mạnh đến sự phân công hợp lý, sự phối hơp chặt chẽ, sự thống nhất QL giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng để đạt được mục tiêu hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đã đề ra. Các tác giả đều khẳng định vai trò lãnh đạo và quản lý toàn diện của Hiệu trưởng. Tuy nhiên, trong thực tế cùng tham gia quản lý các hoạt động chăm sóc và giáo dục ở trường MN còn có vai trò của các Phó Hiệu trưởng, các tổ trưởng và các tổ chức đoàn thể.
Song làm thế nào để hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trường Mầm non đạt hiệu quả cao nhất, huy động được tốt nhất sức mạnh của tập thể ? Đó là vấn đề mà các tác giả đặt ra trong công trình nghiên cứu của mình.A Xukhomlinxki cũng như các tác giả khác đều chú trọng đến việc phân công hợp lý và các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của Hiệu trưởng. Tổ chức y tế thế giới thì Tiến sỹ Etienne Krug, Giám đốc Ban Phòng chống Thương tích, Bạo lực và Thương tật của WHO cho biết. “Khi một đứa trẻ bị dị dạng do bỏng, bị liệt do ngã, bị tổn thương não do suýt chết đuối hay bị tổn thương về tâm lý do bất cứ một tai nạn nghiêm trọng nào, tác động của nó có thể ám ảnh suốt cuộc đời của trẻ. Đây là những bi kịch không cần thiết.
Chúng ta có đủ bằng chứng về những can thiệp có hiệu quả. Chúng ta cần thực hiện các chương trình phòng 8 chống thương tích hiệu quả này tại tất cả các quốc gia”. Tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEP). Năm 2005 WHO và UNICEP ra lời kêu gọi một nỗ lực toàn cầu để phòng chống thương tích cho trẻ em.
Năm 2006 lời kêu gọi đó được tiếp nối bởi kế hoạch hành động 10 năm của WHO về thương tích ở trẻ em. Kế hoạch này liệt kê mục tiêu, hành động và các kết quả mong muốn về thương tích trẻ em và bao gồm các lĩnh vực số liệu, nghiên cứu, dự phòng, dịch vụ, xây dựng năng lực và truyền thông. Tổ chức WHO và UNICEF đã có “Báo cáo thế giới về PTTNTT ở trẻ em”. Báo cáo hội tụ tất cả những kiến thức hiện nay đã được biết về TNTT và cách phòng ngừa chúng đồng thời gợi ý rằng chương trình PTTNTT ở trẻ em cần được lồng ghép vào với sự sống còn của trẻ em và các chiến lược to lớn khác tập trung vào việc cải thiện cuộc sống của trẻ em.
Báo cáo được thực hiện với mục đích chuyển giao kiến thức, đưa kiến thức vào thực tế nên những gì đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc làm giảm gánh nặng thương tích trẻ em ở một vài nước có thể được điều chỉnh và thực hiện ở một số nước khác với kết quả tương tự. Báo cáo đã đưa ra các khuyến nghị có thể thực hiện được bởi tất cả các quốc gia để giảm thương tích ở trẻ em một cách có hiệu quả. Chương trình phòng, chống TNTT trẻ em giai đoạn 2016-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với mục tiêu kiểm soát tình hình TNTT trẻ em, đặc biệt là tai nạn đuối nước và tai nạn giao thông nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ em, hạnh phúc của gia đình và xã hội. Mục tiêu cụ thể của chương trình là giảm tỉ suất trẻ em bị TNTT xuống còn 600/100.000 trẻ em; giảm tỉ suất trẻ em bị tử vong do TNTT xuống còn 17/100.
Một trong những nội dung của Chương trình là truyền thông, giáo dục, vận động xã hội nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức, kĩ năng về phòng, chống TNTT trẻ em cho trẻ em, gia đình, trường học, cộng đồng và xã hội; nâng cao năng lực về phòng, chống TNTT trẻ em cho đội ngũ công chức, viên chức, cộng tác viên, tình nguyện viên làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp, các ngành, đoàn thể. 9 Một số các sáng kiến kinh nghiệm của các nhà quản lý, giáo viên mầm non cũng đã đề cập một số nội dung liên quan đến công tác CSGD trẻ em ở trường mầm non, các giải pháp nâng cao chất lượng CSGD, cụ thể như sau: Tác giả Vũ Yến Khanh nghiên cứu về: “Một số tai nạn thường gặp ở trẻ em trong trường MN, nguyên nhân và giải pháp” [16], đề tài trình bày về lý luận liên quan đến an toàn, TNTT, giải pháp PTTNTT cho trẻ em. Tiến hành khảo sát GV và CBQL, quan sát trực tiếp tại trường mầm non nhằm tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng TNTT thường gặp ở trẻ em trong trường mầm non và đề xuất một số giải pháp PTTNTT cho trẻ em trong trường MN. Tác giả Lê Thị Thu Ba (2011) viết về: “Biện pháp quản lí phòng chống và xử lý TNTT cho trẻ ở trường MN” [3].
đăng trên Tạp chí giáo dục Số đặc biệt 11/2011. Bài báo nêu lên một vài tai nạn thường xảy ra trong trường MN, nguyên nhân, cách phòng tránh, cách xử trí. Tác giả Tào Thị Hồng Vân (2012) nghiên cứu về “Thực trạng và đề xuất một số biện pháp phòng tránh nguy cơ mất an toàn cho trẻ trong trường MN” [32], đăng trên tạp chí Y học thực hành số 2/2012. Bài báo đề cập đến một số kết quả nghiên cứu về môi trường an toàn cho trẻ trong trường MN công lập tại một số trường MN nội và ngoại thành Hà Nội, dựa trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phòng tránh nguy cơ mất an toàn cho trẻ trong trường MN nhằm làm tốt việc đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho trẻ, đáp ứng yêu cầu của ngành.
Đề tài tuy chỉ tiến hành khảo sát ở các trường MN công lập tại Hà Nội nhưng cũng đã khái quát được thực trạng chung của các trường mầm non ở các vùng miền khác. Tuy nhiên chỉ nghiên cứu về thực trạng cơ sở vật chất gây nên tai nạn, không đề cập đến thực trạng về nhận thức của người làm công tác chăm sóc trẻ. Các biện pháp phòng tránh nguy cơ mất an toàn chỉ giới hạn trong trường MN chưa có sự phối hợp những yếu tố bên ngoài nhà trường. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2012) nghiên cứu về “Thực trạng giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy cơ không an toàn tại một số trường mầm non trên địa bàn Hà Nội” [11].
Đề tài nêu những văn bản pháp lí về vấn đề bảo vệ trẻ em, giáo dục trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn, các 10 yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn đồng thời nghiên cứu thực trạng giáo dục trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn, từ đó đề xuất những giải pháp.