CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay, các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đều coi giáo dục, khoa học công nghệ là một bộ phận không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế, hiện đại hóa quốc gia của họ. Theo thống kê của Scimago Journal & Country Rank (Trang web bao gồm chỉ số đánh giá các tạp chí và tình hình khoa học các quốc gia) thì những nước có hoạt động NCKH ở các trường đại học diễn ra mạnh mẽ thường là những nước có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển hàng đầu thế giới.
Để có thể đạt được điều này thì vấn đề về quản lý hoạt động NCKH ở các trường đại học cũng được đặt ra. Các công trình nghiên cứu liên quan cụ thể như của các tác giả Blackburn và Lawrence trong "Faculty at work: Motivation, expectation, satf, action", nghiên cứu về động cơ thực hiện, sự mong đợi và sự thỏa mãn trong công việc của GV qua đó các ông kết luận rằng các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu như tuổi tác, giới tính, trường đào tạo, vị trí nghề nghiệp, môi trường nghề nghiệp và các thay đổi trong cuộc sống. Azad và Seyyed trong tài liệu "Kỹ năng Nghiên cứu và Đào tạo" đã khám phá một khía cạnh tương tự, tập trung vào việc khám phá động cơ của quá trình nghiên cứu, cá nhân hóa quan niệm về ý nghĩa của nghiên cứu, và đánh giá khả năng của mình để thực hiện nghiên cứu. Họ cũng nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường làm việc và tác động của nó đối với kết quả nghiên cứu.
Đối với công trình nghiên cứu Factors That Motivate Faculty to Conduct Research In Expectancy Theory Analysis của các tác giả Chơn Y Gupta A Hoshower thì cho thấy được rằng các GV trong các trường đại học thường có xu hướng đánh giá cao những giá trị vật chất và tinh thần sẽ đạt được sau khi công trình nghiên cứu được hoàn thành. Theo đó, các GV trong biên chế có hứng thú hơn đối với các phần thưởng về tinh thần cho công trình nghiên cứu của họ. Còn đối với các GV ngoài biên chế thì ngược lại, họ đòi hỏi một phần thưởng về vật chất là chủ yếu hơn. Nghiên cứu "Research Methods in Education: A Comprehensive Guide" là một giáo trình quan trọng trong lĩnh vực giáo dục.
Được thiết kế để cung cấp cho sinh viên và những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục kiến thức và kỹ năng về phương pháp nghiên cứu, giáo trình này giúp họ trở thành những nghiên cứu viên có 6 khả năng tiến hành nghiên cứu chất lượng và đóng góp vào việc cải thiện hệ thống giáo dục. Trong giáo trình này, các chủ đề quan trọng như thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, và ứng dụng kết quả nghiên cứu được trình bày một cách chi tiết và hệ thống. Ngoài ra, tài liệu cũng chú trọng đến khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu và cách áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế giáo dục. Giáo trình này cung cấp một cơ hội quý báu cho học viên để nắm vững kỹ năng nghiên cứu và thực hiện các dự án nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực giáo dục.
Qua các công trình nghiên cứu trên ta thấy được nội dung xoay quanh vấn đề chủ yếu đó chính là động lực thực hiện các công trình nghiên cứu của GV tại các trường đại học, của các nghiên cứu viên tại các viện nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho rằng môi trường nghiên cứu giữ vai trò quan trọng ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của công trình nghiên cứu đó. Các nhân tố như cơ sở vật chất, sự hỗ trợ từ các nguồn lực khác nhau cũng có thể tác động và cho ra những kết quả nghiên cứu khác nhau. Bên cạnh đó, yếu tố chủ quan của chính người nghiên cứu như năng lực, hành vi cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả nghiên cứu.
Tóm lại các công trình nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở việc tìm ra động cơ dẫn đến hoạt động NCKH và cho rằng từ động cơ này sẽ cho ra hành động mà không thấy được rằng động cơ muốn dẫn đến thực hiện hành vi phải thông một quá trình, cũng như hội đủ những điều kiện nhất định mới có thể chuyển hóa thành hành vi NCKH cụ thể. Các nghiên cứu ở trong nước Hoạt động NCKH của GV ở các viện, các trường đại học ở Việt Nam đã được chú trọng và quan tâm nhiều hơn trước. Về phương diện quản lý hoạt động NCKH cũng có nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành, cụ thể có thể kể đến một số công trình NCKH sau: Nghiên cứu Trần Mai Ước (2011), Giáo dục Việt nam trong xu thế hội nhập. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM, Số 67; Đào Thị Oanh, Lê Mỹ Dung (2014), Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục của giảng viên đại học sư phạm, Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, số 59/6A, Phan Thị Tú Nga (2011), Thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học Huế.
Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 68; Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hoà (2010), Nghiên cứu khoa học - yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ giảng viên trong các trường đại học. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng - số 4(39), Nguyễn Kiều Oanh (2010), Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và 7 nghiên cứu khoa học trong cơ sở giáo dục đại học. Kinh nghiệm từ Đại học Quốc gia Hà Nội. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Nguyễn Thị Tuyết (2003), Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học Việt Nam theo định hướng bình đẳng giới, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động NCKH ở một số trường đại học Việt Nam theo định hướng bình đẳng giới và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm tăng cường bình đẳng giới ở các trường đại học Việt Nam trong quản lý hoạt động NCKH. Đối tượng nghiên cứu của luận án là các giải pháp quản lý có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm tăng cường bình đẳng giới trong quản lý hoạt động NCKH ở các trường đại học Việt Nam. Nguyễn Thị Thanh Nga (2007), Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP.
HCM, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm TP. Nội dung chủ yếu của công trình khoa học này phân tích, tìm hiểu công tác quản lý của cán bộ quản lý đối với hoạt động giảng dạy và NCKH của GV trường Đại học Sư phạm kỹ thuật TP. HCM và từ đó tìm giải pháp quản lý hoạt động chuyên môn của GV, đáp ứng yêu cầu phát triển của trường. Vưu Thị Thủy Trang (2012), Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Bách khoa — Đại học quốc gia TP.
Luận văn thạc sĩ Đo lường và Đánh giá trong giáo dục, Đại học Bách khoa - Đại học quốc gia TP. Trong công trình nghiên cứu này tác giả tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến GV trường Đại học Bách khoa – Đại học quốc gia TP.HCM thực hiện nghiên cứu khoa học qua đó so sánh đánh giá GV giữa các nhóm ngành khoa học khác nhau, GV giữa các nhóm có năng suất nghiên cứu khác nhau, từ đó để xuất các giải pháp nhằm cải tiến công tác nghiên cứu khoa học tại trường. Nguyễn Thị Thu Hằng (2013), Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc. Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Học viện Bưu chính Viễn thông.
Vấn đề xuyên suốt được đề cập đến trong luận văn này đó chính là việc tác giả đi tìm hiểu và tìm ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc, nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế của vùng và cả nước. Vũ Đức Lễ (2017), Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam, Luận ăn tiến sĩ, Học viện Hành chính quốc gia. Đây là một 8 công trình nghiên cứu với phạm vi rộng, nhằm mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận về chính sách phát triển đội ngũ GV đại học công lập. Phân tích đánh giá thực trạng nội dung chính sách, đề xuất giải pháp hoàn thiện các chính sách để có thể phát triển đội ngũ GV ở các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay.
Các khái niệm chính của đề tài. Quản lý Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm.
Sau đây là một số khái niệm thường gặp: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thế quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến. Theo Fredrich Wiliam Taylor (1956 – 1915) với thuyết quản lý khoa học thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.[11] Theo Henry Fayol (1841 – 1925) với thuyết quản lý hành chính thì cho rằng “Quản lý gồm năm chức năng cơ bản: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra” mà sau này chúng được kết hợp thành 4 chức năng: Kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra.