CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HỆ VỪA LÀM, VỪA HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP TỈNH 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ những năm 1900, giáo dục cho người trưởng thành (adult education), người ngoài tuổi đến trường hoặc không đủ điều kiện tham gia học tập tại các trường học chính quy đã được quan tâm tại một số nước trên thế giới. Tuy nhiên hình thức đào tạo này vẫn chưa có những bước phát triển đáng kể cho đến tận nửa cuối thế kỷ 20.
Như trong cuốn sách “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới” xuất bản năm 1968 của tác giả Ph.Coombs đã cho thấy đào tạo chính quy tại các trường ĐH không thể đáp ứng đủ nhu cầu học tập cũng như đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội phát triển. Vấn đề trở nên cấp thiết và mang tính toàn cầu khi mà kiến thức mà người học được trang bị ngay cả trong trường ĐH vẫn còn ít ỏi và không cập nhật kịp với sự phát triển của xã hội, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thực trạng này đòi hỏi nền giáo dục thế giới cần phải có những cái nhìn mới về các hình thức đào tạo. [29] Những khái niệm như “xã hội học tập”, “học tập suốt đời” đã được nhắc đến trong báo cáo “Học để tồn tại: thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai” năm 1972 của Edgar Faure – Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục đã làm thay đổi nhận thức của cả thế giới về giáo dục không chính quy cho người trưởng thành.
Báo cáo đã phân tích mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế, khoa học – công nghệ, nhu cầu về quy mô, chất lượng của nguồn nhân lực với nhu cầu được học tập, đào tạo của quần chúng đông đảo. Khi nền kinh tế phát triển, mức sống ngày càng cao thì nhu cầu về nâng cao dân trí, mở rộng hiểu biết của mọi người ngày càng trở nên cấp thiết. Hơn 7 nữa, trong một thời đại khoa học, công nghệ trở nên ngày một hiện đại và tinh vi hơn thì con người cần trang bị đủ hiểu biết để quản lý chính những công nghệ đó.[33] Tháng 7 năm 1997 tại Hội nghị thế giới lần thứ V về giáo dục người lớn, giáo dục VLVH được tổ chức tại Đức đã chỉ ra rằng: giáo dục người lớn (hình thức VLVH) tuy khác nhau về tổ chức, tùy theo sự phát triển KT-XH, văn hóa, giáo dục ở mỗi nước song hình thức giáo dục này là một bộ phận quan trọng, cần thiết của quan niệm mới về giáo dục và học tập suốt đời.[37] Kiến thức của nhân loại thay đổi từng ngày, từng giờ và cơ hội tìm kiếm việc làm, cơ hội mưu sinh không tách rời cơ hội giáo dục - đào tạo thì nhu cầu được đào tạo và đào tạo lại, trang bị và nâng cao kiến thức nghề nghiệp đã bùng nổ một cách hết sức đa dạng và phong phú. Từ đó giáo dục không chính quy cho người trưởng thành được coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với giáo dục chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi người.
Đây là định hướng cho cải cách giáo dục giai đoạn này. Năm 1996, trong báo cáo UNESCO với tiêu đề “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn”, đã xác định mục tiêu của giáo dục toàn cầu dựa trên bốn trụ cột: “Học để biết, Học để làm, Học để cùng chung sống, Học để làm người”. Đây cũng chính là kim chỉ nam cho giáo dục thế giới mà cả cho giáo dục Việt Nam khi tiến vào thế kỷ XXI.[30] Tại Việt Nam, từ những năm 1959 đến 1989 hệ thống giáo dục nâng cao trình độ cho người lớn – người lao động phát triển và được gọi là hệ thống bổ túc văn hóa, tiền thân của GDTX sau này. Với phương châm “cần gì học nấy” hệ thống bổ túc văn hóa rất đa dạng về hình thức tổ chức cũng như về chương trình học tập.
Từ 1989 – 1993 là giai đoạn nở rộ của giáo dục bổ túc, nhằm đáp ứng được nhu cầu học tập nhiều mặt và thường xuyên của nhân dân, đặc biệt là những đối tượng không được hưởng hoặc hưởng không đầy đủ sự giáo dục trong nhà 8 trường chính quy. Sau 1993, lần lượt các trung tâm GDTX cấp tỉnh, cấp huyện tại nhiều địa phương được thành lập và đi vào hoạt động đã cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, chú trọng rất nhiều tới nhu cầu học tập của cộng đồng nói chung và giáo dục ngoài chính quy nói riêng. Mục tiêu của GDTX trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 là: Phát triển GDTX tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình, bước đầu hình thành xã hội học tập. Chất lượng GDTX được nâng cao, giúp người học có kiến thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần.[11] Trong quá trình hoạt động của mình, vấn đề quản lý đào tạo ĐH hệ VLVH tại các trung tâm GDTX đã được nhiều tác giả chắp bút, cất công tìm tòi, nghiên cứu.
Nhiều bài báo trên các tạp chí của ngành giáo dục, các báo cáo trong các hội nghị GDTX như: - Vũ Đình Đăng (2017), “Một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp quản lý hoạt động dạy học và thi học phần các lớp liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa”, Kỷ yếu hội nghị lần thứ 24 năm 2017 câu lạc bộ Giám đốc trung tâm GDTX cấp tỉnh, thành phố tại Thanh Hóa. Báo cáo đã đúc kết lại các kinh nghiệm giúp quản lý tốt hai khâu quan trọng trong quá trình quản lý nội dung LKĐT đó chính là đảm bảo nội dung dạy học và tổ chức kiểm tra, đánh giá quá trình dạy, học thong qua thi cuối học phần tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa. - Nguyễn Quang Trung (2014), “Một số ứng dụng kỹ thật và công nghệ hỗ trợ đào tạo từ xa và VLVH tại trường ĐH Mở, TPHCM”, Tài liệu hội thảo Hội nghị đơn vị liên kết đào tạo năm 2014 của Trường ĐH Mở, TP Hồ Chí Minh. Bài viết đã chỉ ra tầm quan trọng và những lợi ích khi áp dụng kỹ thuật, công nghệ vào quá trình giảng dạy, đào tạo, đặc biệt là đối với đào tạo từ xa.
Tiếp cận tài liệu này học viên và giảng viên còn được mở rộng thêm về các ứng 9 dụng hỗ trợ cho hoạt động dạy và học của mình. - Nguyễn Thị Thu (2018), “Xây dựng mạng lưới cộng tác viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyển sinh tại Trung tâm GDTX tỉnh Đắk Nông”, Tạp chí Khoa học quản lý giáo dục Trường CBQLGD TPHCM, thành phố Hồ Chí Minh. Bằng cách thiết lập mạng lưới cộng tác viên, hiệu quả công tác tuyển sinh tại địa phương không ngừng được nâng cao, tạo mối quan hệ gắn kết giữa đơn vị với tất cả các địa phương trong toàn tỉnh, tạo ra một sức mạnh quảng bá và tạo niềm tin cho người học cũng như tạo điều kiện cho đội ngũ thực hiện công tác tuyển sinh trong Trung tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cho thấy, quản lý đào tạo ĐH hệ VLVH tại trung tâm GDTX tỉnh, thành phố còn mang tính địa phương, phụ thuộc vào từng nhà trường, từng ngành học và chưa mang tính thống nhất, tính pháp lý bắt buộc.
Chất lượng quản lý đào tạo ĐH hệ VLVH còn có rất nhiều vấn đề đáng lưu tâm. Nhưng trên thực tế, hoạt động đào tạo ĐH hệ VLVH của các cơ sở giáo dục ở các tỉnh với các trường đại học đã, đang phát triển và tồn tại khách quan đáp ứng nhu cầu cần thiết và cấp bách của xã hội. Đặc biệt trong những năm gần đây, một số cơ sở giáo dục cấp tỉnh đã tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo ĐH hệ VLVH để nâng cao chất lượng đào tạo các lớp ĐH hệ VLVH, như các luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của các tác giả: - Đỗ Văn Hạ (2003), “Một số biện pháp đổi mới quản lý công tác đào tạo cử nhân hệ vừa làm, vừa học tại chức ở Trung tâm GDTX tỉnh Hải Phòng”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, ĐH Giáo dục thuộc ĐH Quốc Gia Hà Nội. Luận văn đã khái quát hóa được một phần cơ sở lý luận về quản lý công tác đào tạo cử nhân hệ VLVH tại trung tâm GDTX tỉnh Hải Phòng, đồng thời nhấn mạnh các biện pháp đổi mới quản lý công tác này cho phù hợp với tình hình địa phương.
10 - Hồ Trung Phong (2017), “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm, vừa học tại Trung tâm GDTX tỉnh Bình Định”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, ĐH Quy Nhơn. Đây là luận văn có nội dung về cơ bản rất gần với đề tài của tác giả. Tuy nhiên, cách tiếp cận đề tài của các tác giả khác nhau và thực tế tại mỗi địa phương cũng khác nhau dẫn đến các biện pháp quản lý cũng có đôi nét khác biệt. - Kiều Anh Pháp (2018), “Quản lý hoạt động đào tạo hệ đại học hệ vừa làm, vừa học tại trường đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, ĐH Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn này như một khía cạnh khác của cùng một vấn đề với đề tài của tác giả. Trong khi tác giả đề cập đến công tác quản lý hoạt động LKĐT ĐH hệ VLVH với tư cách là cơ sở phối hợp hoặc đặt lớp đào tạo thì luận văn của tác giả Kiều Anh Pháp lại tiếp cận vấn đề với tư cách là cơ sở chủ trì đào tạo. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý, học viên cao học trên đây đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý hoạt động LKĐT, nêu lên những biện pháp quản lý hoạt động đào tạo khá đồng bộ, giúp cho các cơ sở giáo dục vận dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý. Đó là những tài liệu quý mà tác giả có thể tham khảo để vận dụng vào nghiên cứu đề tài của mình.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể về quản lý hoạt động LKĐT đại học hệ VLVH tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đắk Nông cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến.