Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI CHỮ VIẾT CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Đây là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại.
Quản lý chứa đựng nội dung lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau, được nhiều nhà khoa học đưa ra các quan niệm khác nhau. Do đó trong luận văn này, tác giả chỉ tổng hợp lại một số khái niệm tiêu biểu làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. Theo Nguyễn Minh Đạo (1998) thì: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[4].
Theo tác giả Trần Kiểm (2011) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng): kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra”[9]. Theo tác giả Vũ Dũng & Nguyễn Thị Mai Lan (2013) thì cho rằng “Quản lý là sự tácđộng có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”[5]. 10 n Còn theo tác giả Trần Quốc Thành (2012) thì “Quản lý là một quá trình định hướng,quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[14]. Như vậy, tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định.
Một cách khái quát có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu, ý chí của người quản lý đề ra. Khái niệm quản lý giáo dục Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động. Trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày, con người nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích luỹ được những kinh nghiệm, từ đó nảy sinh những nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục.
Sơ khai, giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, sau đó trở thành một hoạt động có ý thức. Ngày nay, giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình kế hoạch, có nội dung, phương pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người. Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên. Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục.
Nhà nước quản lý giáo dục (QLGD) thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ. Đã có nhiều nhà nghiên cứu và quản lý thực tiễn đưa ra các khái niệm khác nhau về QLGD. Konzacov thì “QLGD là tập hợp các biện pháp kế hoạch nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”[26]. Tại Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý thực tiễn thì quản lý giáo dục thường được hiểu là việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa,tổ chức, lãnh đạo kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục.
Theo Nguyễn Ngọc Quang (1998) cho rằng: “Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[12]. Theo Phạm Minh Hạc (2007): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh…”[6]. Theo tác giả Trần Kiểm (2011) thì“Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thểGV, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục trong nhà trường” [9]. Từ những quan niệm trên có thể đi đến khái niệm QLGD như sau: Quản lý giáo dục là hoạt động tác động, điều hành, phối hợp của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất.
Khái niệm hoạt động làm quen chữ viết Theo giáo trình Tiếng Việt thực hành thì “Chữ quốc ngữ (chữ viết tiếng Việt) được xây dựng theo hệ thống chữ cái Latinh. Chữ viết tiếng Việt gồm các chữ cái dùng để ghi 11 nguyên âm đơn (a, ă, â, e,ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư) và 3 nguyên âm đôi (iê (yê, ia, ya), ươ (ưa), uô (ua)), dùng để ghi 23 phụ âm (b, c, d, h, k, l, m, n, nh…). Do tiếng Việt là 12 n ngôn ngữ có thanh điệu, nên chữ viết tiếng Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu: thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng, thanh ngang” [16]. Chữ cái là đơn vị chữ viết dùng để ghi lại các âm.
Trong Tiếng Việt bảng chữ cái gồm 29 chữ cái: a, b, c,. Hoạt động LQCV là hoạt động nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong bảng chữ cái Tiếng Việt. Việc nhận biết và phát âm chuẩn 29 chữ cái Tiếng Việt theomẫu chữ viết in thường và viết thường là hoạt động cơ bản đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình học môn Tiếng Việt.Hoạt động LQCV là hoạt động quan trọng trong hoạt động LQCV cho trẻ ở bậc học mầm non và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ vì chỉ khi trẻ nhận biết tốt chữ viết mới giúp trẻ phát triển được nhận thức các môn khoa học tự nhiên, xã hội. Vậy hoạt động LQCV cho trẻ mẫu giáo ở bậc học mầm non là quá trình hoạt động tích cực của trẻ mẫu giáo dưới sự hướng dẫn của giáoviên để trẻ nhận dạng chữ cái, làm quen với hướng đọc, hướng viết, tô, đồ các nét chữ, sao chép một số ký hiệu, chữ cái, tên của mình….các hoạt động để phát triển của các cơ tạo sự vận động khéo léo của bàn tay… hình thành những kỹ năng cần thiết cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một.
Khái niệm quản lý hoạt động LQCV cho trẻ mẫu giáo Viết là một hình thức quan trọng của giao tiếp. Thông qua việc cho trẻ LQCV, vốn từ của trẻ được nâng cao, trẻ được tập nghe để phân biệt và tập phát âm các âm của tiếng việt, được làm quen với hình dáng cách sắp xếp các chữ thành từ, cách phát âm được chữ cái ghi lại bằng chữ cái. Cho trẻ LQCV và chữ cái còn giúp trẻ hình thành và rèn luyện một số kỹ năng như cầm bút, cầm sách, mở từng trang sách, tư thế ngồi của học sinh.Nhờ vậy, trẻ được hình thành dần một số kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở lớp Một. Trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay có nội dung giúp trẻ hình thành những thành tố cơ sở cho viết chữ và đọc, đó là: nhận dạng chữ cái, làm quen với hướng đọc, hướng viết, tô, đồ các nét chữ, sao chép một số ký hiệu, chữ cái, tên của mình….các hoạt động để phát triển của các cơ tạo sự vận động khéo léo của bàn tay… Đây là những kỹ năng cần thiết để 13 n trẻ sẵn sàng vào lớp 1, cần dạy cho trẻ những kỹ năng trên, hình thành cho trẻ sự hứng thú với đọc, viết.
Quản lý hoạt động LQCV cho trẻ mẫu giáo thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào hoạt động LQCV (được tiến hành bởi tập thể GV và trẻ mẫu giáo) nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục phát triển ngôn ngữ từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, chữ viết. Đó là các tác động của các chủ thể quản lý trường mầm non như xây dựng kế hoạch, chương trình nội dung hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mầm non; Tổ chức thực hiện hoạt động LQCV; Kiểm tra đánh giá; quản lý cơ sở vật chất như phòng ốc, giáo cụ phục vụ cho hoạt động LQCV. Tất cả các tác động đó nhằm hướng hoạt động LQCV phát triển toàn diện ngôn ngữ chữ viết cho trẻ. Từ những trình bày ở trên có thể đi đến khái niệm Quản lý hoạt động LQCV cho trẻ mẫu giáo như sau: Quản lý hoạt động LQCV cho trẻ mẫu giáo là quá trình tác động có chủ đích của cán bộ quản lý nhà trường đến GV, trẻ mẫu giáo nhằm mục tiêu giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, chữ viết.
Phương pháp giáo dục Montessori 1. Giới thiệu phương pháp giáo dục Montessori Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria Montessori (1870–1952).