CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vấn đề kiểm tra, đánh giá (KT,ĐG) kết quả học tập được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả đầu nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm đánh giá kết quả học tập (KT,ĐG KQHT). Từng bước xây dựng hoàn thiện cơ sở lý thuyết cơ sở thực tiễn và quy trình cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.J, Bloome và những người khác năm 1971 cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (đánh giá thúc đẩy học tập) [trích từ tài liệu 5] trong đó trình bày kỹ thuật đánh giá trong dạy học.
Trên cơ sở lí thuyết đánh giá trong dạy học nêu trên một số tác giả ngoài nước cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá trong GD nói chung và dạy học nói riêng được các tác giả của Việt nam tổng thuật trong các tài liệu [5,6]. Đánh giá việc học tập của học sinh được tiến hành rất khác nhau ở hầu hết các nước phát triển. Hầu hết các nước phát triển không cho rằng học tập là chỉ để nắm vững nội dung môn học là quan trọng nhất. Trong thế kỷ 21 sẽ đòi hỏi học sinh phải có cách chuẩn bị kiến thức khác đi so với các thế ký trước đó.
Ví dụ, con người sẽ cần phải giao tiếp cả ở dạng nói và dạng viết và họ sẽ cần phải làm việc nhóm nhiều hơn. Do đó, các chương trình giảng dạy trong phổ thông trung học, đặc biệt ơ giáo dục tiểu học cần tập trung vào phát triển các loại kỹ năng này. Có thể dễ dàng sử dụng các phương pháp thông thường như kiểm tra cuối kỳ để xác định xem liệu học sinh có thành thạo các kỹ năng viết hay tính toán hay không, nhưng gần như không thể xác định được liệu học sinh có thể trình bày ý tưởng của mình một cách hợp lý và rõ ràng khi nói. Các phương pháp đánh giá truyền thống không cho phép giáo viên xác định 5 z được liệu học sinh có thể làm việc như các thành viên của nhóm hay không.
Các cách thức đánh giá học sinh phụ thuộc tất cả vào các loại kỹ năng đang cố gắng phát triển trong chương trình giảng dạy. Các vấn đề sau được các tài liệu nước ngoài nhấn mạnh: Đánh giá quá trình là một quá trình, không phải là một bài kiểm tra cụ thể. Không chỉ giáo viên sử dụng đánh giá này mà là cả giáo viên và học sinh sẽ sử dụng. Đánh giá quá trình diễn ra trong quá trình giảng dạy.
Đưa ra ý kiến phản hồi căn cứ vào đánh giá cho giáo viên và học sinh. Chức năng của sự phản hồi liên tục trong suốt tiến trình dạy học là để giúp giáo viên và học sinh đưa ra các điều chỉnh để cải thiện thành tích của học sinh đối với các mục tiêu của chương trình giảng dạy đã dự kiến. Ở trong nước Trong các tài liệu [5,6,19] của các tác giả Nguyễn Đức Chính; Lâm Quang Thiệp; Đặng Bá Lãm đã trình bày các nội dung liên quan đến đo lường và đánh giá kết quả của học sinh nói chung và ở các bậc học nói riêng. Thời gian gần đây có một số luận án tiến sỹ liên quan đến kiểm tra, đánh giá kết quả học tập như luận án TS của Lê Mỹ Hà ; luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Thủy và một số người khác nghiên cứu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học nói chung và ở các môn học nói riêng… Các tài liệu trong và ngoài nước nêu trên cho thấy khung lí luận về kiểm tra, đánh giá nói chung và đo lường đánh giá kết quả học tập nói riêng được nghiên cứu khá kỹ.
Trong các tài liệu nêu trên đã trình bày rõ các nội dung về vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học và trình bày khá rõ các chức năng cũng như quy trình triển khai hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học. Các khái niệm cơ bản của đề tài 6 z 1. Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã định. Theo quan điểm kinh tế học: Quản lý là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến". Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” "Quản lý là một nghệ thuật vì đây là hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải được vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt vào những tình huống rất đa dạng, trong những điều kiện không gian thời gian, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau" [16]. - Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.[trích lại từ 10] Từ các quan niệm về quản lí nêu trên theo tác giả có thể “quản lí là một quá trình tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí (bộ máy QL, người QL) lên khách thể, đối tượng quản lí (người; việc; vật) nhắm thực hiện được mục tiêu đề ra thông qua các chức năng quản lí.
Về chức năng quản lý: Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động quản lý. Nó tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt được mục tiêu quản lý đề ra. 7 z Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý, song về cơ bản đều thống nhất có bốn chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. * Chức năng lập kế hoạch Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất giúp cho nhà quản lý tiếp cận mục tiêu mét cách hợp lý và khoa học.
Trên cơ sở phân tích trạng thái xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức. Lập kế hoạch bao gồm ba nội dung chủ yếu sau: - Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển. - Chuẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức. - Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đề ra.
* Chức năng tổ chức Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con người, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần. Công tác tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây: - Xác định cấu trúc của bộ máy. - Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy. - Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
* Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm: - Chỉ huy, ra lệnh. - Động viên, khen thưởng. - Uốn nắn và điều chỉnh.
* Chức năng kiểm tra Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý nhằm đánh giá trạng thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc tìm ra nguyên nhân của những sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lý tiếp theo. Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của 2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý. Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ dưới đây: Lập kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ Chu trình quản lý 1. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về mặt chính trị văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng hệ 9 z thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra [16].