phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 chƣơng: 10 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học sinh ở các trƣờng trung học phổ thông vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chƣơng 3: Biện pháp quản lí hoạt động học tập của học sinh ở các trƣờng trung học phổ thông vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 L ch sử nghiên c u hoạt động học tập (1) Nghiên cứu về vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp hoạt động học tập (a)Về vai trò của hoạt động học tập Khổng Tử là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại.
Bộ sách đồ sộ của ông chính là nội dung của Nho giáo: Bộ ngũ kinh: Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh xuân thu, Kinh thƣ, Kinh thi. Ông nghiên cứu việc chỉnh đốn, giảng giải những vấn đề về đạo đức, hai đóng góp lớn của ông: (1) Sáng lập ra tƣ học; và (2) Sáng lập ra Nho giáo. Chủ trƣơng giáo dục của Khổng Tử: là “Bình dân giáo dục”, đây là chủ trƣơng tiến bộ trong bối cảnh lịch sử bấy giờ (Lê Ngọc Anh, 2014 &Nguyễn Đức Lân, 1998). Komenxki là nhà giáo dục của Cộng hoà Slôvakia (Tiệp Khắc).
Khi nói về vai trò của giáo dục, ông cho rằng: Con ngƣời sinh ra mà không đƣợc học, không đƣợc sự giáo dục của nhà trƣờng và xã hội thì lớn lên chẳng khác nào nhƣ những cây mọc hoang dại, sẽ không có khả năng hành động theo đúng mục tiêu của lẽ sống, sẽ không nhìn rõ cái thiện và dễ sa vào cái ác, cái tội lỗi. 11 Khẳng định vai trò học tập của học sinh đối với đất nƣớc trong thƣ gửi các học sinh nhân ngày khai trƣờng đầu tiên của nƣớc độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tƣơi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bƣớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cƣờng quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000a). Khi nói về vai trò học vấn của các tầng lớp nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nƣớc, Bác Hồ khẳng định: “Mọi ngƣời Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nƣớc nhà, và trƣớc hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000a). Sự học, trình độ học vấn liên quan đến vận mệnh dân tộc, thể hiện sự mạnh, yếu của một dân tộc: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000a).
(b)Về mục đích hoạt động học tập Đối với Nhà nƣớc, những ngƣời làm công tác quản lý phải chăm lo sự nghiệp giáo dục, phải coi nó là một trong những điều kiện đem lại nền thịnh trị cho đất nƣớc. Đối với cá nhân, mục đích giáo dục là đào tạo họ thành những ngƣời quân tử. Tuy nhiên việc học tập phải dựa vào hai yếu tố: óc thông minh và ý chí học tập (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Để xác định mục đích của việc học tập, Bác Hồ căn dặn: “Các cháu cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của nhân dân mà định, không thể tùy theo sở thích của riêng mình” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000c). (c)Về người học và người dạy Khổng Tử cho rằng, giáo dục cần thiết cho mọi đối tƣợng, không phân biệt các hạng ngƣời trong xã hội. Học tập là phƣơng tiện cần thiết duy nhất để mở mang sự hiểu biết, trau dồi đạo đức làm ngƣời (Lê Ngọc Anh, 2014&Nguyễn Đức Lân, 1998). Khổng Tử cho rằng ngƣời học phải có nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, khám phá cái mới; phải độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình nhận thức.
Ngƣời dạy 12 không chỉ truyền đạt tri thức mà cái cơ bản là dạy năng lực sáng tạo, dạy phƣơng pháp học để ngƣời học tự tìm đến tri thức. Ông nói: “Kẻ nào không cố công tìm kiếm, ta chẳng chỉ vẽ. Kẻ nào không bộc lộ tƣ tƣởng của mình, ta chẳng khai sáng cho. Kẻ nào ta dạy mà không biết hay ta chẳng dạy” (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998).
Đối với người học, ngoài học Thầy, học trong sách vở còn học cả trong cuộc sống: “ba người cùng đi, tất có người làm thầy; lựa cái hay của người này mà học, xét cái quấy của người kia mà tự sửa mình”; tƣ tƣởng này rất tiến bộ. Chúng ta có thể học mọi lúc, mọi nơi, mọi ngƣời trong bất cứ hoàn cảnh nào (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, khoa học kỹ thuật công nghệ luôn luôn thay đổi. Do đó, nếu ta thụ động, không tiếp thu tri thức thì sẽ lạc hậu và không theo kịp xu hƣớng phát triển của thời đại.
Vì vậy ta phải luôn học tập, trau dồi kiến thức trong mọi hoàn cảnh. Đối với người dạy, theo Khổng Tử: “học không biết chán, dạy người không mỏi mệt” - thái độ dạy học ấy rất tiến bộ hợp cho mọi thời đại. Khổng Tử còn đặt ra rất nhiều yêu cầu khắt khe đòi hỏi sự nỗ lực của ngƣời học đi theo hƣớng của thầy đã vạch ra (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Ngoài ra, Khổng Tử đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp của ngƣời học để nắm những phần quan trọng nhất của các vấn đề đặt ra.
Sự kết hợp giữa học và hành, giữa tri thức và thực tiễn nhƣ đòi hỏi việc vận dụng trong Kinh Thi, với việc hành chính và việc của ngƣời đi sứ (Lê Ngọc Anh, 2014&Nguyễn Đức Lân, 1998). Theo Thuyết công cụ của John Dewey, mỗi hành động của đứa trẻ chính là công cụ hữu hiệu cho sự nhận thức của nó, cho sự tự khám phá của nó, và đồng thời là phƣơng tiện và cách thức không thể thiếu đƣợc cho việc nhận thức chân lý. Một trong những luận điểm căn bản trong triết lý giáo dục của John Dewey là những ngƣời học có sự khác biệt với nhau, chính vì vậy việc giảng dạy và chƣơng trình giảng dạy cần phải đƣợc thiết kế sao cho có thể đáp ứng đƣợc sự khác nhau cũng nhƣ các nhu cầu riêng của ngƣời học, chứ không thể ghép những ngƣời học đó vào cùng một chƣơng trình học tập rập khuôn nhƣ nhau. 13 Ngƣời học không đƣợc coi là ngƣời với một cái đầu trống rỗng cần phải đƣợc ngƣời thầy nhồi nhét kiến thức vào trong đó.
Không còn khái niệm thi đỗ hay thi trƣợt, bởi vì việc đánh trƣợt một ngƣời học sẽ làm ngƣời đó nản lòng. Ngƣời thầy có vai trò hoàn toàn khác, không còn là ngƣời độc đoán, mà là ngƣời hƣớng dẫn thân thiện, đồng thời là một ngƣời quản lý, một ngƣời tạo điều kiện, một nhà tâm lý, một ngƣời phân xử (John Dewey, 2008). Khi nói về ý chí của con ngƣời đối với việc học tập thƣờng xuyên, Bác Hồ ân cần căn dặn: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ.
Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình” (Hồ Chí Minh, toàn tập, 1996b). Nói về học tập của thanh niên, Bác Hồ căn dặn: “Ngày nay nước ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự và Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1996b).
“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000b). (d)Nội dung học tập Nội dung giáo dục cơ bản của Nho giáo gồm: “Nhân, Lễ, Trí, Tín”. Nội dung giáo dục luân lý đạo đức của Khổng Tử đƣợc thể hiện trong “Luận ngữ”.
“Luận ngữ” chủ trƣơng rèn luyện tính Thiện cho dân bằng phƣơng pháp “cất nhắc ngƣời tốt, dạy dỗ ngƣời không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện”. Giáo dục đạo đức, gồm 4 mặt: môn đức hạnh; khoa ngôn ngữ; môn chính trị; môn văn học. Chính công việc truyền dạy của ông đã có tác dụng tích cực rất lớn đối với lịch sử văn hóa (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Nội dung giáo dục của Khổng Tử bao gồm những chủ trƣơng nhắm vào việc phục vụ quan điểm chính trị, cũng nhƣ vào việc cải tạo xã hội đƣơng thời.
Ông tuyệt nhiên không phải dạy “văn học”, dạy “ngôn ngữ”. Khổng Tử rất coi trọng việc 14 học Kinh Thi, không học Kinh Thi thì không biết gì để nói. Theo ông, Kinh Thi có thể làm cho ta phấn khởi, có thể làm cho ta đoàn kết, có thể làm cho ta biết căm thù, gần thì để thờ cha mẹ, xa thì thờ vua, nhƣng căn bản là bồi dƣỡng đức hạnh, kiến thức, để “thờ cha”, “thờ vua” (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Nội dung giáo dục do Khổng Tử xác định đƣợc xây dựng trên thế giới quan duy tâm, tin rằng trời là chúa tể của vũ trụ có thể sắp đặt mọi sự vật hiện tƣợng theo quy luật nhất định gọi là mệnh trời.
Muốn sống phù hợp với đạo trời, với quỷ thần thì phải có: “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, đó mới là ngƣời quân tử (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Platon, sinh ra tại Athens, Hy Lạp. Platon là học trò xuất sắc của Socrates. Platon là nhà triết học duy tâm khách quan.
Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của ông là học thuyết về ý niệm. Trong học thuyết này ông đƣa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm (Nguyễn Hữu Vui, 2002). Từ quan niệm trên, Platon đã đƣa ra khái niệm “tồn tại” và “không tồn tại”. “Tồn tại” là cái phi vật chất, cái nhận biết đƣợc bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất.
Còn “không tồn tại” là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất.