phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về vấn đề quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng trung học phổ thông. Chƣơng 2: Kết quả nghiên cứu về thực trạng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Các biện pháp nâng cao công tác quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu về vấn đề quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại các trƣờng trung học phổ thông 1. C c ê cứu ở ước Trong quá trình giáo dục ở trƣờng trung học phổ thông, HĐGDNGLL là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, đƣợc thực hiện có tổ chức, mục đích theo kế hoạch của nhà trƣờng ngoài giờ học trên lớp. Quản lí các hoạt động này là rất quan trọng ở các trƣờng THPT, điều này đƣợc thể hiện qua các quan điểm sau: Rabơle (1494 - 1553) – văn sĩ, nhà bác học nghiên cứu nhiều môn khoa học, đại biểu xuất sắc của nền văn học thời Phục Hƣng Pháp đƣa ra quan điểm quản lí các hình thức giáo dục có nội dung “trí dục, đức dục, thể chất và thẩm mĩ ngoài giờ học trên lớp bằng việc tổ chức các buổi tham quan các cửa hàng, xưởng thợ, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ và mỗi tháng một lần thầy – trò về sống ở nông thôn một ngày” để trải nghiệm cuộc sống thực tiễn[21]. Nhà giáo dục vĩ đại Tiệp Khắc J.
Kômenxki (1592 – 1670) xem quản lí việc học tập của học sinh kết hợp với các hoạt động ngoài giờ học là một cách giải phóng học tập ra khỏi sự giam hãm trong bốn bức tƣờng của trƣờng học thời trung cổ và việc học tập không phải chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà có cả sự lĩnh hội kiến thức từ đất trời, cây cỏ. Ăng-ghen (1820 – 1895) – các nhà tƣ tƣởng thiên tài ngƣời Đức đã xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra con ngƣời phát triển toàn diện. Để thực hiện điều này cần phải quản lí đƣợc phƣơng thức giáo dục hiện đại đó là quản lí các hoạt động giáo dục kết hợp với lao động sản xuất [22]. Các ông cho rằng “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [22]. Macarenco (1888 – 1939) – nhà giáo dục ô Viết lỗi lạc đã chứng minh đƣợc rằng một trong những logic của quá trình sƣ phạm là quá trình quản lí, tổ chức hợp lí các hoạt động tham gia quá trình giáo dục, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể nhƣ vui chơi, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, tham quan du lịch.cho học sinh với ý kiến “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta. Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trên lớp. Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ công tác giáo dục của trẻ” [22].
Năm 2010, Viện Giáo dục Khoa học – Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ tiếp tục tìm hiểu về công tác quản lý các HĐNK và thống kê về tỷ lệ tham gia HĐNK theo loại hình hoạt động và giới tính, có bổ sung nội dung khảo sát kế hoạch học lên đại học của học sinh trung học cho thấy: học sinh có kế hoạch học lên đại học sẽ tham gia HĐNK với tỷ lệ cao hơn nhiều so với học sinh không có kế hoạch học lên đại học. Ví dụ, trong số học sinh có kế hoạch học lên đại học có 43% tham gia vào thể thao, 37% tham gia vào các CLB hoạt động, 25% tham gia âm nhạc/ nghệ thuật biểu diễn khác, 17% tham gia vào các CLB học thuật, và 11% tham gia trong Hội học sinh/ chính phủ và trong một tờ báo/ Niên giám; trong khi đó những học sinh không có kế hoạch học lên đại học tham gia vào các HĐNK nêu trên chỉ chiếm tỷ lệ từ 25% đến 2%. Những con số này đã giúp ích rất nhiều cho các nhà QLGD lên kế hoạch quản lý các HĐNK và phối hợp với các LL H để tổ chức các HĐNK đáp ứng nhu cầu của học sinh [27]. Hầu hết các chuyên gia lỗi lạc đều đồng ý rằng thời gian sau giờ học là giờ cao điểm dễ gây ra các hành vi xấu trong giới trẻ vị thành niên, do đó việc quản lí đƣợc các chƣơng trình tổ chức thực hiện sau giờ học đƣợc xem nhƣ là một nơi sinh hoạt trú ẩn an toàn cho học sinh tránh đƣợc những tác động tiêu cực của xã hội, đồng thời cũng giúp học sinh rèn luyện những kỹ năng mới qua đó giúp học sinh có thêm động lực, nâng cao thành tích học tập, phát triển nhân cách tích cực, toàn diện và tránh đƣợc các vấn đề về hành vi và xung đột.
C c ê cứ tr ước 1. Các nghiên cứu về thực trạng HĐGDNGLL Ở nƣớc ta, một trong những cải cách mới của Bộ giáo dục và đào tạo là đƣa HĐGDNGLL vào trong chƣơng trình THPT với mục tiêu giáo dục cụ thể, có chƣơng trình, chủ đề và phân phối thời lƣợng cho các hoạt động theo chủ đề sinh hoạt hàng tháng, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để giáo dục học sinh một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Thông qua các HĐGDNGLL, học sinh sẽ củng cố, bổ sung và mở rộng thêm tri thức đã học, rèn luyện thêm các kỹ năng và có thái độ đúng đắn trƣớc những vấn đề trong cuộc sống. Đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về tổ chức HĐGDNGLL và công tác quản lý thực hiện chƣơng trình HĐGDNGLL ở các trƣờng trung học phổ thông từ khá sớm, cụ thể: Tác giả Phạm Lăng trong bài viết “HĐGDNGLL ở trƣờng THPT Chu Văn An, Hà Nội” trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 12/1984, thông qua 13 hình thức hoạt động và các nội dung đƣợc xây dựng cụ thể phù hợp với từng tháng đã làm nâng cao chất lƣợng dạy học: số học sinh đạt danh hiệu tiên tiến, số lớp đạt danh hiệu tiên tiến tăng lên và số giờ xếp loại trung bình yếu, số học sinh cá biệt giảm đáng kể [16].
Năm 1988, tác giả Đỗ Nguyễn Hạnh có bài “Một vài hình thức giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp có hiệu quả” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục 2 - 1988. Trong bài viết, tác giả đã đƣa ra một số hình thức nhƣ: bình thơ, trƣng bày tranh ảnh, thăm quan,. có tác dụng tốt trong việc củng cố, bổ sung kiến thức, giáo dục tình cảm, ý thức tập thể cho học sinh [7]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã có ý kiến cho rằng HĐGDNGLL có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, phạm vi tiến hành rộng rãi “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí.
để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách”[12]. Năm 1991, tác giả Nguyễn Dục Quang trong bài viết “Đổi mới phƣơng pháp tổ chức HĐGDNGLL ở trƣờng THPT” đã tập trung phân tích hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với việc xác định mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của nó đối với việc hình thành phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức, củng cố, nâng cao kiến thức văn hóa cho học sinh. Tác giả cũng đă đƣa ra các hình thức, nội dung HĐGDNGLL, 9 phƣơng thức tổ chức linh hoạt mềm dẻo sát với thực tiễn các trƣờng phổ thông [19]. Bài viết “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng THPT: Thực trạng và giải pháp” đƣợc tác giả Trịnh Văn Biều, Lê Thị Kim Dung đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.
Trong bài viết, tác giả kh ng định: Đa số học sinh thích đƣợc tham gia HĐGDNGLL và nhận thức đƣợc sự hữu ích của hoạt động này. Chỉ có rất ít học sinh (8.4%) cho rằng HĐGDNGLL không mang lại lợi ích gì. Lí do thích HĐGDNGLL đƣợc đa số các em đƣa ra là vì nó giúp mở rộng và làm tăng sự gần gũi trong quan hệ bạn bè, tạo môi trƣờng vui chơi, giải trí. Tuy nhiên, HĐGDNGLL chƣa thu hút đƣợc đông đảo học sinh bên cạnh lí do về hình thức hoạt động không hấp dẫn, nội dung hoạt động còn nhàm chán thì việc học sinh bận bài vở, thiếu thời gian cũng là lí do đáng kể [3].
Năm 2010, tác giả Hà Mỹ Hạnh thực hiện Luận văn “Thực hiện chƣơng trình HĐGDNGLL ở trƣờng THCS tỉnh Tuyên Quang”. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở các trƣờng THCS tỉnh Tuyên Quang hiện nay chƣa có sự quan tâm thích đáng tới hoạt động này: nội dung còn nghèo nàn, hình thức còn đơn điệu, lực lƣợng tổ chức vẫn chủ yếu là giáo viên, vai trò chủ thể của học sinh chƣa đƣơc phát huy, hoạt động này lại không đƣợc đánh giá đúng mức nên HĐGDNGLL chƣa đóng góp nhiều vào việc nâng cao chất lƣợng giáo dục của các trƣờng THCS [8]. Các nghiên cứu về công tác quản lý HĐGDNGLL Với đề tài “Các biện pháp nâng cao chất lƣợng quản lý HĐGDNGLL của hiệu trƣởng các trƣờng THPT các tỉnh phía Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Trâm năm 2003 đã hệ thống lại lý luận về HĐGDNGLL, nghiên cứu thực tiễn về quản lý HĐGDNGLL trong một số trƣờng THPT các tỉnh phía Nam, đề xuất đƣợc một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý HĐGDNGLL ở trƣờng THPT [23].