phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý Hoạt động GDNGLL theo hướng phát triển năng lực người học ở trường THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Hoạt động GDNGLL ở trường THCS Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, tp Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý Hoạt động GDNGLL theo hướng phát triển năng lực người học ở trường THCS Tam Hiệp, Huyện Thanh Trì, tp Hà Nội. 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƢỜI HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Xuất phát từ vị trí, vai trò của quản lý HĐGDNGLL và HĐGDNGLL theo hướng phát triển năng lực người học trên cả bình diện và thực tiễn trong các lĩnh vực quản lý giáo dục, đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề này. Tác giả Nguyễn Dục Quang năm 1999, với bài viết “Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT”, đăng tại tạp chí NCGD đã tập trung nghiên cứu các mặt của HĐGDNGLL với việc xác định mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của nó đối với việc hình thành phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức, củng cố, nâng cao kiến thức văn hóa cho học sinh. Tác giả cũng đã đưa ra các hình thức, nội dung HĐGDNGLL phương thức tổ chức linh hoạt mềm dẻo sát với thực tiễn các trường phổ thông.
[35] Tác giả Phạm Hoàng Gia năm 1987, với bài viết “Hoạt động ngoài giờ lên lớp học sinh lớp 6”, đăng tại tạp chí nghiên cứu giáo dục 4 - 1984 và Tạp chí NCGD đã dùng phiếu mẫu điều tra, nêu 30 loại cộng việc, gồm 57 dạng hoạt động cụ thể, phân thành các nhóm: Hoạt động học tập, hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động xã hội, hoạt động năng khiếu cá nhân. Theo tác giả thì các hoạt động mà các em tham gia nhiều nhất là hoạt động ngoài giờ học, các em tham gia giúp đỡ công việc gia đình, ít có thời gian tham gia vào các hoạt động khác. Trong công trình nghiên cứu, tác giả cũng cho thấy bằng cách tác động tới cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập; thì trong quá trình tổ chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép được thì ý thức tập thể, nhân cách cách học sinh cũng được phát triển. [16] Tác giả Nguyễn Văn Thiềm năm 2000, với bài viết “Mấy biện pháp giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cư” đăng tại tạp chí 6 NCGD cho rằng chất lượng giáo dục học sinh ở nhà trường giảm sút một phần là do việc giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng; sự phối hợp giữa các lực lượng bị coi nhẹ cho nên phải có sự phối hợp hoạt động nhà trường với địa bàn dân cư.
[38] Tác giả Giang Thị Khuyên nghiên cứu “Thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở trường Tiểu học miền núi huyện Mai Châu - Sơn La”, đã chỉ ra một số biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh Tiểu học miền núi có hiệu quả như: Bồi dưỡng nhận thức, kỹ năng quản lý HĐGDNGLL cho đội ngũ cán bộ, giáo viên; tăng cường công tác thi đua khen thưởng, chăm lo xây dựng, quản lý cơ sở vật chất; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện, phối hợp các lực lượng tham gia. [24] Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga năm 2014, nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại các trường THPT huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục THPT trong giai đoạn hiện nay” bài viết đã đề cập nhiều đến việc cần phải nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên trong trường và các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường về vai trò của HĐGDNGLL là cần thiết. Tiếp theo là biện pháp bồi dưỡng năng lực cho các lực lượng tham gia quản lý và biện pháp phát huy tính tích cực của HS. [33] Vấn đề quản lý HĐGDNGLL cũng đã được đề cập tới trong một số luận văn thạc sĩ nhưng chủ yếu về hoạt động quản lý của cơ sở giáo dục đối với trường THCS, bậc tiểu học và trường THPT.
Song còn ít tác giả đề cập đến vấn đề quản lý HĐGDNGLL theo hướng phát triển năng lực người học ở các trường THCS một cách có hệ thống và phù hợp với điều kiện thực tế của trường THCS Tam Hiệp huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chúng tôi cũng nghiên cứu vấn đề này chủ yếu về quản lý HĐGDNGLL của nhà quản lý đối với đối tượng quản lý là học sinh trường THCS Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội theo hướng phát triển năng lực. Đáp ứng yêu cầu của đổi mới mục tiêu GD theo hướng toàn diện, phát huy tính chủ động, sáng tạo, lấy HS làm trung tâm của hoạt động giáo dục. Một số khái niệm công cụ.
Khái niệm Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Khái niệm hoạt động giáo dục. Hoạt động là phương thức tồn tại tích cực của con người với môi trường sống của mình. Trong quá trình hoạt động con người thiết lập, vận hành mối quan hệ của mình với đồ vật và với người khác.
Hoạt động giúp “con người sáng tạo ra lịch sử và trong quá trình đó sáng tạo ra chính bản thân mình” (Mác) Hoạt động giáo dục là hoạt động do người lớn tổ chức theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm. Điều này có nghĩa các chủ thể của hoạt động giáo dục phải chịu trách nhiệm về hoạt động giáo dục. Đó là các nhà giáo dục và các chủ thể có liên quan khác nhau như: cha mẹ, học sinh, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ sở giáo dục. Hoạt động giáo dục là sự vận hành các yếu tố của giáo dục được nhận thức và kiểm soát, thực hiện bởi nhà trường.
Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện trong các hoạt động thực tiễn về khoa học- kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, văn hóa nghệ thuật, hoạt động thể thao, vui chơi giải trí, tham quan du lịch,…được thực hiện ngoài giờ lên lớp nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Điều 26, điều lệ trường phổ thông có ghi: “HĐGDNGLL bao gồm các hoạt động ngoại khóa về văn học, thể dục thể thao nhằm phát triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giáo dục văn hóa, các hoạt động giáo dục môi trường, các hoạt động lao động công ích, các hoạt động xã hội, các hoạt động từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh” [11] 1. Khái niệm năng lực.
Theo Bernd Meier: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống 8 thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [32] Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. (Chương trình GD PT tổng thể) * Đặc điểm của năng lực: - Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, …) để có một sản phẩm nhất định. - Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể.
Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động. - Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực hoạt động, giao tiếp, tư duy, tổ chức, …). Vậy không tồn tại năng lực chung chung.
Phân loại năng lực. Năng lực chung là năng lực có bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh. Năng lực đặc thù môn học (của môn học) là năng lực mà môn học, có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó).
Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Sau Đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011) và nhất là từ khi có Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị 9 trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được triển khai Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, nhằm phát triển phẩm chất và năng lực người học. Đó là là cách tiếp cận nêu rõ học sinh sẽ làm được gì và làm như thế nào? vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường.
Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi HS nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhưng còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống; tính chất và kết quả hoạt động cũng phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, niềm tin, đạo đức… của người học nên chương trình rất chú trọng đến mục tiêu phát triển các phẩm chất, năng lực chung mà mọi học sinh đều cần có, đồng thời phát triển các phẩm chất và năng lực riêng của từng em. Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các khâu của quá trình dạy học thay đổi: Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cách kiểm tra, đánh giá; cách thức quản lý và thực hiện… nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục. Khái niệm Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.