Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài và trong nước Hoạt động GD KNS và QL hoạt động GD KNS trong nhà trường là vấn đề nghiên cứu không mới ở nước ngoài và Việt Nam. Tuy nhiên, tùy vào từng thời điểm, từng quốc gia, mỗi công trình đã đóng góp những kết quả thiết thực về lí luận cũng như thực tiễn, làm phong phú thêm các kinh nghiệm về hoạt động GD KNS và QL hoạt động GD KNS trong nhà trường.
Với riêng vấn đề QL hoạt động GD KNS cho trẻ MG ở trường MN, một số nghiên cứu cũng tập trung những khía cạnh khác nhau về lí luận và thực tiễn. Các nghiên cứu về kĩ năng sống Ở nước ngoài, KNS (life skills) không phải là một khái niệm mới, năm 1986 (WHO, 1986), KNS đã được các tổ chức quốc tế công nhận là một khái niệm chính thức và được đề cập rộng rãi trong các chính sách quốc tế. Về quan niệm KNS, các nghiên cứu trên thế giới dù đưa ra những cách định nghĩa khác nhau nhưng nội hàm của các khái niệm này đều cho rằng: KNS là những kĩ năng giúp con người tồn tại và phát triển trong xã hội. Các khái niệm do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề xuất được thay đổi, mở rộng dần theo thời gian nhưng cũng đều cho rằng KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội và giao tiếp được con người vận dụng trong đời sống hằng ngày để giải quyết các vấn đề và tương tác có hiệu quả trong cuộc sống (WHO, 1994) (WHO, 1999) (WHO, 2020).
Quan niệm này của WHO được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình (Thomas, 2006) (Yadav & Iqbal, 2009) (Aguila, 2015). Tổ chức UNESCO cho rằng KNS là một dạng năng lực (ability) giúp cho người thực hiện đầy đủ các chức năng xã hội và tham gia đời sống hằng ngày (UNESCO, 2003). Như vậy, quan niệm về KNS có sự thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội trong những giai đoạn khác nhau và đòi hỏi con người cần có những khả năng mới để thích ứng hiệu quả, nhưng các quan niệm đó đều mô tả những (LUAN.minh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.minh 12 dạng khả năng để giúp con người đáp ứng được những yêu cầu của xã hội nhằm tồn tại và phát triển. Về phân loại KNS, các nghiên cứu trên thế giới hiện nay chưa có sự thống nhất về khung KNS cần thiết cho các lứa tuổi khác nhau.
Sở dĩ như vậy là vì sự khác biệt về mốc thời gian và nơi sinh sống chi phối đến con người, đòi hỏi con người phải có những kĩ năng khác nhau để có thể tồn tại, sống và phát triển toàn diện. Theo cách phân loại của UNESCO, KNS có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các kĩ năng chung (kĩ năng nhận thức, kĩ năng cảm xúc, kĩ năng xã hội) và nhóm các kĩ năng được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (các vấn đề đời sống và sức khoẻ; các vấn đề về giới; các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma tuý, thuốc lá, rượu; các vấn đề thiên nhiên, môi trường; các vấn đề về gia đình, cộng đồng …) (UNESCO, 2003). Theo cách phân loại của Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS có thể chia thành 3 nhóm cơ bản: Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình, nhóm kĩ năng nhận thức và sống với người khác, nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả (Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, 2019). Theo cách phân loại mới nhất của WHO, KNS được chia thành 3 nhóm: Kĩ năng tương tác giữa các cá nhân và giao tiếp (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng từ chối và thương lượng, kĩ năng vận động), kĩ năng nhận thức (kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phản biện), kĩ năng cá nhân – kĩ năng đối phó và QL bản thân (kĩ năng tự nhận thức và tự QL, kĩ năng ứng xử) (WHO, 2020).
Như vậy, cách phân loại KNS là không cố định và có tính linh hoạt. Điều này tạo nên sự đa dạng trong việc lựa chọn nội dung GD KNS cho phù hợp với từng đối tượng GD ở các khu vực cụ thể. Về vai trò của KNS, một cách khái quát, bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trên các lĩnh vực tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu trên thế giới đều chứng minh rằng: KNS là yếu tố không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như phát triển cá nhân, phát triển các năng lực tâm lí – xã hội (WHO, 1994) (UNESCO, 2003) (Kamps, Ellis, Mancina, & Greene, 2010) (Aguila, 2015) (Srisa-an, 2015). Thậm chí, KNS còn đóng vai trò chi phối đến mọi mặt của đời sống của con người gồm thể chất, tinh thần, sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông minh (Leutenberg & Liptak, 2009).minh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.minh 13 Ở Việt Nam, từ những năm 1990, sau khi WHO chính thức đưa ra khái niệm KNS, thuật ngữ KNS bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam và có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Về quan niệm KNS, Nguyễn Quang Uẩn (2008) cho rằng cuộc sống con người bao gồm các hoạt động sống, trong hệ thống các kĩ năng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có các KNS. Phạm Minh Hạc (chủ biên) và cộng sự (2013) cho rằng KNS là tổng hợp các kĩ năng bộ phận giúp cá nhân thích nghi và giải quyết hiệu quả các yêu cầu, thách thức của cuộc sống. Quan niệm khác cho rằng KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp cho con người có thể kiểm soát, QL có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hằng ngày (Nguyễn Thanh Bình và cộng sự, 2017). Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2019) xem KNS là một biểu hiện quan trọng của khả năng tâm lí – xã hội giúp cho các cá nhân thể hiện được chính mình và tạo ra nội lực cần thiết để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống và phát triển.
Như vậy, dù cách diễn đạt có khác nhau và nội hàm của các khái niệm có độ rộng, hẹp khác nhau, nhưng tựu trung lại, KNS theo quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước là một khái niệm thuộc về phạm trù tâm lí (hiểu theo nghĩa rộng) chứ không phải chỉ một kĩ thuật thực hiện hành động, hành vi (hiểu theo nghĩa hẹp). Về phân loại KNS, tùy vào cách tiếp cận khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu có mỗi cách phân loại khác nhau. Nguyễn Quang Uẩn (2008) cho rằng KNS của con người bao gồm 3 nhóm kĩ năng: Nhóm kĩ năng thuộc về cuộc sống cá nhân, nhóm kĩ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng và xã hội, nhóm kĩ năng công việc. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn (2011), cách phân loại KNS theo mô hình 4H của Steve Mc.
Kinley là hợp lí, trong đó chia thành 4 nhóm kĩ năng lớn và 8 nhóm kĩ năng nhỏ, bao gồm: Nhóm kĩ năng vận động (nhóm các kĩ năng tương tác, nhóm các kĩ năng làm việc), nhóm các kĩ năng sức khỏe (nhóm các kĩ năng khẳng định bản thân, nhóm các kĩ năng sinh hoạt), nhóm các kĩ năng nhận thức (nhóm các kĩ năng QL, nhóm các kĩ năng tư duy) và nhóm các kĩ năng cảm xúc (nhóm các kĩ năng tương tác, nhóm các kĩ năng quan tâm). Theo nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự (2017), KNS thay đổi theo nền văn hoá và hoàn cảnh nhưng tồn tại các nhóm kĩ năng cốt lõi, có mối quan hệ mật thiết với nhau, đan xen và bổ sung cho nhau, bao gồm: nhóm kĩ (LUAN.minh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.minh 14 năng nhận thức bản thân và QL bản thân, nhóm kĩ năng liên nhân cách, nhóm kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề. Nhận định về các cách chia này, nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2019) cho rằng “tuỳ từng độ tuổi, có thể phân loại thành những KNS khác nhau. Dựa trên các giá trị chung và những giá trị cần chiếm lĩnh cũng như những đặc điểm tâm lí lứa tuổi đặc trưng thì những KNS sẽ được phân chia phù hợp với quá trình học tập, huấn luyện hay GD”.
Về vai trò của KNS đối với con người, tương tự như các nghiên cứu ở nước ngoài, các nghiên cứu trong nước đều đồng ý rằng: KNS là yếu tố quan trọng trong sự hình thành và phát triển năng lực của con người, đặc biệt ở khía cạnh tâm lí – xã hội (Nguyễn Quang Uẩn, 2008) (Huỳnh Văn Sơn, 2011) (Nguyễn Thanh Bình và cộng sự, 2017) (Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, 2019). Như vậy, các nghiên cứu về KNS ở Việt Nam đa số đều tiếp cận dưới góc độ tâm lí học, đã kế thừa những kết quả đạt được từ các nghiên cứu về KNS trên thế giới và hệ thống hoá, khái quát hoá lại hệ thống lí luận về KNS. Các nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo Với vai trò không thể thiếu của KNS trong đời sống con người, công tác GD KNS trở nên cấp thiết và trở thành nội dung không thể thiếu trong chương trình GD của nhiều quốc gia. Các nghiên cứu về GD KNS cho người học trong nhà trường cung cấp những lí luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú về hoạt động GD này.
Tại các nước phương Tây, hoạt động GD KNS đã vận dụng một cách tổng hợp quan điểm của những nghiên cứu của các tổ chức quốc tế như WHO, UNICEF (UNESCO, 2009). Các nghiên cứu ứng dụng chuyên biệt được tổng hợp và đưa ra một hệ thống KNS định hướng cho người học rèn luyện dựa trên các nhóm kĩ năng sau: nhóm kĩ năng thuộc về tâm lí cá nhân, nhóm kĩ năng trong mối quan hệ với người khác, nhóm kĩ năng cộng đồng và nhóm kĩ năng làm việc cá nhân. Ở các quốc gia Nam Á, tiêu biểu như Ấn Độ và Nepal, các nghiên cứu rất quan tâm đến khái niệm và phân loại KNS nhằm làm cơ sở để thử nghiệm các kế hoạch GD KNS, hướng đến tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người (Srisa-an, 2015), (Chakra, 2016). Theo các tác giả Ravindra Prajapati, Bosky Sharma, (LUAN.minh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.