phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGDKNS cho trẻ em MCCN tại các trung tâm CTXH Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành Chƣơng 3: Biện pháp quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI CÁC TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở nƣớc ngoài 1. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống Kĩ năng sống (KNS) và giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) là những thuật ngữ đƣợc biết đến khá sớm ở nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc phƣơng Tây.
Tuy nhiên, việc giáo dục KNS chỉ đƣợc xem là những hoạt động nhằm đào tạo ngƣời lao động các kĩ năng nghề nghiệp và đƣợc thực hiện bởi các chuyên gia. Sau đó, đến những năm 1960, khái niệm KNS và GDKNS đƣợc nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lãnh vực nhƣ giáo dục, tâm lý, quản lý đã tìm hiểu, nghiên cứu với nhiều hƣớng khác nhau. Một nhóm các nhà nghiên cứu nhƣ: P.v… đã nghiên cứu những kĩ năng ở mức khái quát và chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức, trí tuệ và phần lớn chỉ đề cập ở những khái niệm, lý thuyết một cách trừu tƣợng. Một hƣớng khác, đó là nghiên cứu kĩ năng ở mức độ cụ thể dựa trên các lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Đại diện cho nhóm này phải kể đến nhà tâm lý - giáo dục V.v… Đặc biệt, vào thời điểm này, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục thế giới (UNESCO) đã chỉ ra ba yếu tố căn bản của việc giáo dục một con ngƣời trở thành ngƣời có nhân cách, đó là: kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố kĩ năng và thái độ. Vào những năm cuối thế kỷ 20, khái niệm KNS và GDKNS đƣợc biết đến một cách rộng rãi và nó đƣợc xuất hiện trong một số các chƣơng trình hành động của các tổ chức lớn trên thế giới, đặc biệt là trong lãnh vực giáo dục. Phần lớn, các nghiên cứu đều muốn tìm một quan niệm chung để đi đến thống nhất về khái niệm của KNS và GDKNS. Trong đó, tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) xem việc GDKNS cho trẻ em là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức thành thái độ và hành động cho trẻ.
Tổ chức này chia những KNS thành 3 nhóm: nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình; nhóm kĩ năng nhận thức và sống với ngƣời khác; nhóm kĩ năng ra quyết định, học tập và làm việc hiệu quả [2]. Còn 7 UNESCO chia các kĩ năng thành 2 nhóm [2]: nhóm kĩ năng chung (KN nhận thức, KN tƣơng tác xã hội…) và nhóm kĩ năng theo từng vấn đề cụ thể (vấn đề về giới, phòng chống bạo lực…). Đối với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), họ quan niệm KNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, hay nói cách khác, KNS là khả năng ứng phó, giải quyết một cách hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống [4]. Tổ chức này chia hệ thống các kĩ năng thành ba nhóm: nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng đƣơng đầu với cảm xúc.
Bƣớc sang thế kỷ 21, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng chƣơng trình giáo dục riêng, phần lớn đều chú trọng đến giáo dục KN và thái độ cho tất cả học sinh ở các cấp học. Theo tài liệu nghiên cứu của UNICEF, vào thời điểm này đã có hơn 155 quốc gia trên thế giới đƣa GDKNS vào trong nhà trƣờng. Từ đó đến nay, trải qua hơn nửa thế kỷ, khái niệm kĩ năng sống và GDKNS đƣợc bàn đến rất nhiều và dƣờng nhƣ nó là vấn đề đƣợc nhiều ngƣời quan tâm, nhất là ở lãnh vực giáo dục. Hàng loạt những tác phẩm nghiên cứu về vấn đề này ra đời nhƣ: Tác phẩm Life Skill Education and Curriculum (Chương trình giáo dục KNS) của Gracious Thomas (2006) đã chú trọng đến vai trò của giáo viên và huấn luyện viên trong việc trang bị các KNS cho trẻ em.
Quyển The Indispensable – Book of Practical Life Skills (Quyển sách về những kĩ năng thực hành thiết yếu) của Nic Compton (2009) giới thiệu phƣơng thức giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, những xung đột, lo lắng; xử lý những tình huống từ đơn giản đến phức tạp. Pat Broadhead (2004) với tác phẩm Early Years Play and Learning: Developing social skill and Cooperation (Phát triển kĩ năng xã hội và hợp tác thông qua học tập và vui chơi trong những năm đầu đời của trẻ) đã đƣa ra những cách thức để giáo viên dạy trẻ các kĩ năng căn bản của cuộc sống, hƣớng dẫn các trò chơi phát triển kĩ năng và cách nhận xét, đánh giá qua các hoạt động vui chơi đó. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, mọi ngƣời đã quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho con em của họ ngay từ lúc còn rất nhỏ. Ở Mỹ và các nƣớc Tây – Âu chú trọng giáo dục kĩ năng sống nhằm giúp trẻ phát triển năng lực của chính mình.
Đặc biệt chú trọng rèn luyện con ngƣời có đƣợc sự mạnh mẽ, bản lĩnh, tƣ duy độc lập, sáng tạo và tinh thần tự do dân chủ. Các kĩ năng đƣợc giáo dục nhƣ: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tƣ duy độc lập, tƣ duy phê phán, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng nhận 8 thức bản thân, v.v… Ở Bangladesh: Giáo dục KNS đƣợc khai thác dƣới góc độ các kĩ năng hoạt động xã hội, kĩ năng phát triển, kĩ năng chuẩn bị cho tƣơng lai. Còn ở Ấn Độ: Giáo dục KNS cho học sinh đƣợc xem xét dƣới góc độ giúp cho con ngƣời sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực con ngƣời. Các KNS đƣợc khai thác giáo dục là các kĩ năng: Giải quyết vấn đề, tƣ duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng quan hệ liên nhân cách, v.v… Giáo dục KNS ở Campuchia đƣợc xem xét dƣới góc độ năng lực sống của con ngƣời, kĩ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS đƣợc triển khai theo hƣớng là giáo dục các kĩ năng cơ bản cho con ngƣời trong cuộc sống hàng ngày và kĩ năng nghề nghiệp.
Giáo dục KNS ở Malaysia đƣợc xem xét và nghiên cứu dƣới ba góc độ: các kĩ năng thao tác bằng tay, kĩ năng thƣơng mại và đấu thầu, kĩ năng sống trong đời sống gia đình. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống Từ những năm 1990, hoạt động giáo dục kĩ năng sống đƣợc nhiều ngƣời quan tâm và các tổ chức cũng bắt đầu triển khai và đi vào hoạt động. Tuy nhiên, phần lớn ở các nƣớc, việc quản lý hoạt động này đều do chính phủ quản lý, hoặc cũng do các Bộ có liên quan với chính phủ quản lý. Mỗi nƣớc đều xây dựng chƣơng trình giáo dục riêng tùy theo điều kiện, đặc điểm của mỗi quốc gia.
Tại các nƣớc nhƣ Mỹ, Úc, Canada và một số nƣớc khác xem việc quản lý HĐGDKNS là việc huấn luyện những kĩ năng cần thiết cho ngƣời lao động trong nhiều lãnh vực khác nhau. Một số nhà nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu mô hình quản lý nhà trƣờng về việc GDKNS cho học sinh nhƣ: Comer (1998), Richard P. Ho Bach Harrison (2010), Cata-Lano (1998), Pedersen, Vitaro, v. Bên cạnh đó, vài vấn đề khác liên quan đến việc quản lý cũng đƣợc tìm hiểu nhƣ: vấn đề phối hợp giáo dục KNS cho học sinh (sự phối hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và cộng đồng xã hội) gồm các nhà nghiên cứu nhƣ: Catalano, Howard (1986); Kube, Ratigan (1991); Morrison, Lena, Domingeuz (1993), v.v… [4,19] Một vấn đề cũng rất quan trọng, đó là nghiên cứu việc quản lý nội dung, phƣơng pháp, các điều kiện của HĐGDKNS cho trẻ cũng đƣợc quan tâm.
Trong đó có Duke Gifted Letter (2006), Ahmed (2009), v. Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở trong nước 1. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống là những thuật ngữ đƣợc biết đến khá sớm ở nhiều nƣớc trên thế giới, còn ở nƣớc ta mãi đến những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, khi xu thế phát triển chung của thế giới đang hƣớng đến thì khái niệm về thuật ngữ KNS và GDKNS mới đƣợc hiểu rõ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc giáo dục kĩ năng sống có mầm móng từ rất lâu qua việc ông cha chúng ta dạy cho con cháu cách đối phó với thiên nhiên, cách đối nhân xử thế, hoặc việc học ăn, học nói, học gói, học mở, v.v… Đó là những kĩ năng đơn giản mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống con ngƣời ở những thời điểm khác nhau.
Có thể nói, tại nƣớc ta, thuật ngữ kĩ năng sống đƣợc biết đến từ chƣơng trình UNICEF vào năm 1996 (Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV cho thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng) đã giáo dục cho thanh thiếu niên một số các kĩ năng để tự bảo vệ sức khỏe và phòng chống đƣợc bệnh tật, đặc biệt là bệnh HIV. Nhƣng mãi cho đến những năm đầu thế kỷ 21 (từ năm 2000), nội hàm về kĩ năng sống mới đƣợc hiểu rõ và sử dụng rộng rãi. Bên cạnh việc chính phủ, bộ, ngành liên quan ban hành các chính sách văn bản đề cập đến việc trang bị cho học sinh những kĩ năng căn bản nhất. Tại hội thảo với chủ đề “chất lƣợng giáo dục và kĩ năng sống” đƣợc tổ chức tại Hà Nội do UNICEF và Viện Chiến lƣợc tổ chức đã giới thiệu một số mô hình tiêu biểu về GDKNS và bàn luận một số vấn đề và phƣơng pháp để GDKNS cho học sinh.
Sau đó, một số chƣơng trình và dự án nhƣ chƣơng trình thực nghiệm “giáo dục sống khoẻ mạnh và kĩ năng sống cho trẻ vị thành niên” đã đƣợc triển khai và rất nhiều thí điểm tại rất nhiều trƣờng ở các tỉnh, chƣơng trình này do UNICEF tài trợ. Và cũng chính từ năm 2003 ở nƣớc ta đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nƣớc.