Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích, khách thể, đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phạm vi đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. * Phần nội dung : Gồm 03 chương Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Dự án của tác giả Beth D.
Slazak “Improving Students: Teaching Improvisation to High School Students to Increase Creative and Critical Thinking” (Giảng dạy ứng xử cho học sinh để tăng cường tư duy sáng tạo và khả năng phê bình) được triển khai bởi Trung tâm nghiên cứu sáng tạo quốc tế (International Center for Studies in Creativity) [34]. Dự án tập trung vào việc dạy học sinh những kỹ năng mang tính ngẫu hứng nhằm nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo và tầm quan trọng của những suy nghĩ tích cực cho học sinh. Dự án đã sử dụng các công cụ để thực hiện đào tạo các kỹ năng sáng tạo giải quyết vấn đề, các quy tắc và khái niệm của các hoạt động trải nghiệm ngẫu hứng và kỹ năng tư duy tình cảm. Nghiên cứu của Tri Suminar, Titi Prihatin, and Muhammad Ibnan Syarif với tiêu đề Model of Learning Development on Program Life Skills Education for Rural Communities (Phương thức học tập chương trình phát triển giáo dục kĩ năng sống cho cộng đồng nông thôn) [38].
Theo đó, nghiên cứu chỉ ra rằng việc học các kỹ năng sống cần thực hiện dựa trên nhu cầu của người học và các khả năng của địa phương. Sự hiểu biết của các nhà quản lý giáo dục về mục đích của việc học kỹ năng sống thông qua cộng đồng nông thôn vẫn còn hạn chế trong các kỹ năng đào tạo, giáo dục. Việc nắm vững các nội dung của các chương trình đào tạo kỹ năng và hoạt động giáo dục kỹ năng sống trên tinh thần chủ động của các trường nói chung và các nhà tổ chức giáo dục nói riêng chưa được đầy đủ. Những người làm công tác đào tạo kỹ năng sống cho trẻ không được phép dựa trên các nguyên tắc học của người trưởng thành để áp dụng đối với học sinh tiểu học.
Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển một mô hình học tập trong chương trình giáo dục kỹ năng sống có giá trị đối với cộng đồng nông thôn để nâng cao sức cạnh tranh từ nguồn nhân lực chính tại các địa phương. Quá trình hình thành kỹ năng sống của học sinh tập trung vào năm thành phần: a) Học tập mô hình cú pháp, b) Hệ thống định mức không khí học tập hiện hành xã hội, c) Phản ứng của các mô hình quản lý hệ thống học tập tương tác, d) Hỗ trợ, trang thiết bị, vật liệu và môi trường học tập, e) Các tác động từ các kết quả của giảng dạy và học tập. Nghiên cứu của Albert J. Petitpas và cộng sự với tiêu đề A Life Skills Development Program for High School Student-Athletes (Chương trình phát triển kĩ năng nói cho học sinh, sinh viên trường mình) [1].
Theo đó, việc đánh giá các dữ liệu, số liệu được cung cấp, kết hợp với một số lợi thế tiềm năng của việc sử dụng thể thao và các hoạt động sau giờ học để thúc đẩy năng lực xã hội của các học sinh được thảo 5 luận trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các hoạt động thể dục thể thao và các hoạt động ngoài giờ lên lớp được xác định là nơi giúp thanh thiếu niên phát triển các sáng kiến và cảm xúc của bản thân một cách hiệu quả. Mục đích của bài viết mô tả sự phát triển và thực hiện các chương trình can thiệp quốc gia có sử dụng việc tham gia các môn thể thao như một phương tiện để tăng cường phát triển kỹ năng sống trong thanh niên thành thị. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, từ năm 2001 đến năm 2005, với sự hỗ trợ của UNICEF, giáo dục kỹ năng sống nhằm mang lại cuộc sống lành mạnh cho trẻ em và thanh thiếu niên trong và ngoài trường học thông qua một số dự án như: Dự án “Trường học tăng cường sức khỏe”, Dự án “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS”.
Ngành Giáo dục đã triển khai kế hoạch lồng ghép giáo dục kỹ năng sống vào hệ giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cơ bản đã được triển khai trong trường tiểu học bao gồm: kỹ năng thích ứng, kỹ năng hành động, kỹ năng ứng xử, năng lực tự học suốt đời; học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình. Trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống”, Nguyễn Thanh Bình khẳng định những yêu cầu cụ thể đối với việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Tác giả cho rằng: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [25].
Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra rằng kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của kỹ năng sống trong giáo dục nhà trường, phương pháp giáo dục kỹ năng sống và trình bày phương pháp xây dựng một chương trinh học tập, nguyên tắc chọn nội dung và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là kỹ năng sống. Các tác giả biên soạn bộ sách Giáo dục Kỹ năng sống trong các môn học ở tiểu học- Tài liệu dành cho giáo viên [11], đã phân tích tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường phổ thông, kỹ năng sống là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh, kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội và cho rằng giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và cách tiếp cận phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Một số công trình nghiên cứu khác trong nước đề cập đến kỹ năng sống nói chung, đặc biệt ở trường học, chẳng hạn: Kỹ năng sống cho thanh thiếu niên của 6 Nguyễn Thị Oanh [32]; Sổ tay Kỹ năng sống chung cho hoạt động thanh niên của Phạm Văn Nhân [28].
Các tác phẩm cho rằng học sinh phải tích cực tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống để thay đổi hành vi. Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy rằng, giáo dục kỹ năng sống có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giáo dục học sinh, sinh viên ở Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới. Các nghiên cứu đều cho thấy tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống và những ảnh hưởng lớn của hoạt động này tới việc phát triển nhân cách học sinh, sinh viên; song mới chỉ có rất ít quốc gia đưa nó vào giảng dạy thành một bộ môn cụ thể trong toàn hệ thống giáo dục, mà hầu hết mới chỉ lồng ghép vào các môn học và các hoạt động giáo dục. Có rất nhiều tài liệu kỹ năng sống nhưng cơ bản đều là lý thuyết chung, không hướng đến một nội dung cụ thể hoặc một hệ thống xuyên suốt.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục * Khái niệm quản lý Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [39]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [40].
Như vậy, có thể khái quát Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. * Khái niệm quản lý giáo dục Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên, trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” [41]. Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát.
một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội" [39]. 7 Theo tác giả Lê Quang Sơn: Nếu tiếp cận giáo dục trên cả hai phương diện (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), thì thấy quản lý giáo dục phải hiểu theo các cấp độ khác nhau (vĩ mô và vi mô): Quản lý hệ thống giáo dục và quản lý trường học.