Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HỌẠT ĐỘNG DẠY HỌC TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Tổng quan nghıên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Thực tiễn quản lý hoạt động dạy học luôn tồn tại và sôi động. Tuy nhiên, việc tổng kết lý luận về vấn đề này còn khá chậm so với thực tiễn. Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các đề tài về những khía cạnh khác nhau của QLGD Năm 1956, lần đầu xuất hiện cuốn “Quản lý trường học” (Skolovedenie) của tác giả A.Pôpốp, một nhà sư phạm và quản lý giáo dục của Liên Xô cũ.
Cuốn sách này, về thực chất, không phải là một công trình khoa học về QLGD, mà là cả một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác quản lý giáo dục đặc biệt là quản lý trường học; trong đó có quản lý hoạt động dạy học. Viện Quản lý và Kinh tế giáo dục thuộc Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) năm 1987 đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lý trường học qua nhiều năm, trình bày những quan điểm mới nhất về quản lý giáo dục nói chung và quản hoạt động dạy học nói riêng của các học giả Xô Viết (cũ) tính đến thời điểm đó. Như vậy, trong những công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu QLGD Xô Viết cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ GV”. Đó chính là quản lý hoạt động dạy học.
Đầu những năm 90, UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính cẩm nang về kĩ năng QLGD mang tựa đề “Kế hoạch hóa và QLGD vi mô”. Trong những năm cuối của thế kỉ XX, sách báo về QLGD đã xuất hiện rất nhiều. Điển hình là các công trình đề cập những quan điểm mới về QLGD nói chung và QL hoạt động DH nói riêng. Tuy nhiên, những nghiên cứu về QL hoạt động DH ở nước ngoài vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu sâu đến QL hoạt động DH trong nhà trường TH nói chung và QL hoạt động DH cho học sinh dân tộc ở tiểu học nói riêng.
Các nghiên cứu trong nước Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, nền GD Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển GD với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các thành tựu nghiên cứu GD đã thừa nhận QLGD là nhân tố then chốt 6 đảm bảo cho sự thành công của phát triển GD. Vấn đề này đặt ra cho các nhà QLGD phải hết sức nỗ lực trong công tác QL của mình.
Trong lịch sử giáo dục, ở mỗi thời kỳ phát triển, dưới những góc độ khác nhau, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra các biện pháp, giải pháp QL hữu hiệu để xây dựng được nền giáo dục có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia và của thời đại. Vì lẽ đó, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lí luận QLGD và QL dạy học trong nhà trường, tiêu biểu có các công trình: Quản lý hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường- Tác giả Lê Quang Sơn [26]; Đặng Quốc Bảo- Bùi Việt Phú [24]tác giả đã nhấn mạnh: Nhà QL cần có những quan điểm mới phù hợp và có hệ thống nhằm chuyển đổi thành công từ HĐDH lấy kiến thức sang lấy năng lực của người học làm mục tiêu DH. Tài liệu tham khảo cho GV và CBQL giáo dục tiểu học về dạy học bằng tiếng Việt cho HS DTTS - Dự án GD tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn của Bộ GD&ĐT; Giáo dục lớp ghép và song ngữ ở trường tiểu học Việt Nam – Bùi Thị Ngọc Diệp )[13]. Hiện nay, QL hoạt động DH là một vấn đề mang tính thời sự đã được quan tâm nghiên cứu và tiếp tục được nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
Bên cạnh những tác giả nghiên cứu sâu sắc về các hoạt động của nhà trường kể trên, còn có một số công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề tăng cường QL hoạt động DH, phổ biến kinh nghiệm QL chung cho CBQL như các đề tài, luận án cũng bàn luận về vấn đề QL hoạt động DH như: - Một số tạp chí chuyên ngành cũng đăng tải các kết quả nghiên cứu bàn đến một số vấn đề có liên quan QL hoạt động DH, đã đi sâu làm rõ quan niệm về tổ chức hoạt động DH nhằm phát huy tính tích cực của HS. Những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung của đất nước, đòi hỏi khách quan đặt ra cần có sự nâng cao chất lượng giáo dục đã có nhiều luận văn đề cập liên quan đến vấn đề nghiên cứu đó là một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành QLGD cũng đã đề cập đến các biện pháp quản lý HĐDH trong các nhà trường phổ thông dưới nhiều góc độ khác nhau. Đó là các đề tài đã được nghiên cứu như các công trình nghiên cứu quản lý hoạt động tự học, giáo dục kĩ năng sống và quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh người dân tộc thiểu số như: - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Kon Tum tỉnh Kon Tum của tác giả KsoXuân ( 2016) ) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum của tác giả Nguyễn Thị Thương (2017) )[27]. - Biện pháp quản lý HĐDH tiểu học của Phòng GD&ĐT quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng của tác giả Đặng Minh Hằng (2009)[18].
Qua luận văn tác giả đã cung cấp một số khái niệm liên quan đến công tác quản lý, QLGD, tác giả đã đánh giá việc 7 quản lý HĐDH cấp tiểu học ở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng từ đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng việc quản lý HĐDH cấp tiểu học ở quận Hồng Bàng- Hải Phòng. - Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa ở các trường Tiểu học huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Tài Cường (2011) [12]. Qua luận văn chúng tôi đã tiếp nhận được nhiều nội dung quan trọng rất bổ ích cho quá trình tham khảo viết luận văn của mình, đó là để quản lý tốt hoạt động dạy học theo hướng tích cực thì hiệu trưởng cần phải làm gì; và các giải pháp cho việc đó ra sao. - Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở trường tiểu học huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Văn Thịnh (2011) [30].
Qua luận văn này tác giả đã đánh giá thực trạng việc giảng dạy ở các trường tiểu học của huyện Thuận Thành từ đó tìm ra hệ thống giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của công việc này. Tóm lại, các công trình, đề tài nghiên cứu trên đã tiến hành nghiên cứu và đề ra các nguyên tắc giáo dục, mục đích của giáo dục, đánh giá thực trạng biện pháp quản lý HĐDH của Phòng GD&ĐT hoặc của Hiệu trưởng đối với GV các trường tiểu học bằng những cách tiếp cận khác nhau và đã đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả thi để nâng cao hiệu quả QLGD. Nhưng các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số biện pháp QL nói chung của cấp học, chưa có đề tài nào đề cập tới các biện pháp quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS trên địa bàn huyện Đăk Tô. Việc chỉ ra được những biện pháp QL hiệu quả HĐDH tăng cường tiếng Việt của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy tiếng Việt là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum.
Các kháı nıệm chính của đề tàı 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục 1. Khái niệm Quản lý Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau.B Everard, Geoffrey and Ian Wilson cho rằng “Quản lý đề ra phương hướng, mục đích và mục tiêu; lập kế hoạch tiến trình thực hiện hoặc mục tiêu đạt được như thế nào; tổ chức các nguồn lực có sẵn (nhân lực, thời gian, vật lực), để có thể đạt được mục tiêu một cách kinh tế nhất theo đúng kế hoạch đề ra. Kiểm soát tiến trình thực hiện; đề ra và nâng cao chuẩn của tổ chức” [20].
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người QL) đến khách thể quản lý (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [17]. Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng " Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn [19]. 8 Quản lý bao giờ cũng tồn tại với 3 yếu tố: Chủ thể quản lý; khách thể quản lý; mục tiêu quản lý.
Các yếu tố của QL có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và đều nằm trong một môi trường kinh tế xã hội bao gồm mặt bằng dân trí, giáo dục, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, Văn hoá, Luật pháp, các tác động quốc tế. Môi trường này là nguồn thông tin và cũng là cái quyết định trình độ hiệu quả của QL. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về quản lý như sau: “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động, sắp xếp tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của tổ chức đã đề ra” [2]. Khái niệm Quản lý giáo dục Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội.