CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Nhìn nhận dưới góc độ hình thức dạy học, DHTT được coi là một loại hình dạy học từ xa. Việc dạy từ xa thông qua công nghệ thông tin, internet chỉ mới xuất hiện lần đầu vào khoảng những năm 1980 – đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của thuật ngữ “E-learning”.
Ở bậc Đại học, năm 1999 có trên 1000 trường Đại học triển khai các khóa học trực tuyến E – learning, tuy nhiên không hoàn toàn thay thế cho việc học truyền thống tại trường lớp, chỉ mang tính bổ trợ. DHTT ban đầu, chủ yếu được hiểu là sử dụng môi trường công nghệ thông tin, môi trường internet để hướng dẫn người học từ xa, cung cấp cho người học các tài liệu, giao bài tập gián tiếp qua internet. Sau này sự phát triển của một số nền tảng ứng dụng như MS Team, Zoom, Google meet, LMS … đã tạo ra môi trường học tập mang tính tương tác, người dạy, người học có thể trao đổi học tập trực tiếp với nhau. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến DHTT, cũng như QL DHTT ở các cấp học.
Qua khảo sát, phân tích các nghiên cứu có đề cập đến những vấn đề này, chúng tôi thu thập được một số kết quả sau: Về các nghiên cứu tính hiệu quả và hạn chế của hoạt động DHTT: Để so sánh hiệu quả của dạy trực tuyến so với dạy trực tiếp và hình thức lớp học đảo ngược; hai tác giả HusamAldamen, ShahriarSaadullah đã nghiên cứu ở 122 sinh viên trong một khóa học Nhập môn Quản lý. Kết quả cho thấy hình thức dạy trực tuyến và lớp học đảo ngược có hiệu quả cao hơn so với học truyền thống. Phần lớn sinh viên cho rằng, khi học trực tuyến, việc tiếp cận tài liệu, bài giảng trở lên dễ dàng hơn; quá trình trực tuyến không bị gián đoạn bởi đường truyền, thì việc tương tác, trao đổi diễn ra bình thường; quan trọng là sinh viên và giảng viên có thể trao đổi, thảo luận mọi lúc mọi nơi ngay cả ngoài giờ học trên hệ thống trực tuyến 5 [43]. Năm 2021, các tác giả Preethi Sheba Hepsiba Darius, Edison Gundabattini, Darius Gnanaraj Solomon đã khảo sát 450 sinh viên tại các trường Đại học ở Nam Ấn Độ để đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy học trực tuyến, kết quả cho thấy việc trao đổi bằng các bài giảng điện tử, video, các hình ảnh động, sử dụng các tiện ích của phần mềm dạy học.
giúp sinh viên hào hứng hơn với việc tìm hiểu, trao đổi kiến thức [52]. Nghiên cứu của Wei Bao tại Đại học Bắc Kinh cho thấy; để dạy học trực tuyến hiệu quả cần đảm bảo 5 nguyên tắc sau: Thứ nhất là thời gian học tập, độ khó của kiến thức phải phù hợp với sinh viên; thứ hai là tốc độ giảng dạy, sự phân phối thông tin, kiến thức; thứ ba sự cung cấp tài liệu trước, trong và sau khi học; thứ 4 là tính hiệu quả của hệ thống cơ sở vật chất dạy học trực tuyến; cuối cùng là chuẩn bị kế hoạch liên tục, có chương trình đào tạo trực tuyến cụ thể [36]. Theo nghiên cứu của Picciano, A. (2013) về việc triển khai đào tạo trực tuyến tại Trường Đại học Central Florida – nơi triển khai đào tạo trực tuyến từ rất sớm, từ 8 môn học trực tuyến với 125 sinh viên tham gia vào năm 1997 đã tăng lên 503 môn học với 13,600 sinh viên theo học.
Nhà trường cũng đã tiếp tục tăng số lượng lớp học trực tuyến sau khi nhận ra điểm số của sinh viên cao hơn và chi phí chi trả cho cơ sở vật chất giảm đáng kể. Nghiên cứu này cho thấy, E-learning tạo môi trường học tập chủ động; nghĩa là với các nội dung được triển khai hoàn toàn trực tuyến, sinh viên có thể làm chủ được việc học của mình. Người học có thể học theo tốc độ của riêng mình, được lựa chọn phương pháp học tập phù hợp nhất và nhận được những phản hồi nhanh chóng từ giảng viên về các hoạt động học tập. Bên cạnh đó, người học còn có thể học ở bất kì nơi đâu chỉ cần có kết nối Internet, điều này giúp giảm thiểu được thời gian của người học, giúp cho họ có nhiều thời gian tập trung cho việc học và tăng kết quả học tập.
(2013) cho rằng việc áp dụng E-learning cho phép giảng viên tích hợp được nhiều công cụ truyền đạt thông tin như video bài giảng, các cuộc thảo luận trực tuyến… giúp giảng viên nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin 6 trong giảng dạy. Đồng thời, E-learning giúp giảng viên có thể theo dõi học viên một cách dễ dàng. Giảng viên có thể đánh giá người học thông qua cách trả lời các bài kiểm tra hoặc các chủ đề thảo luận trên diễn đàn. Điều này cũng giúp đánh giá một cách công bằng học lực của người học.
Đối với các tổ chức giáo dục, E-learning giúp giảm được các chi phí như chi phí đầu tư cho phòng học. Bên cạnh đó, giảng viên đại học ngoài yêu cầu đứng lớp, họ còn phải dành thời gian cho nghiên cứu khoa học, tham gia hội thảo, tư vấn nghề nghiệp… Do đó, đào tạo trực tuyến giúp Nhà trường giải quyết những khó khăn về thời gian cho giảng viên. Đào tạo trực tuyến cho phép giảng viên mang bài giảng của mình đến hàng trăm người học (Kaur, M. Đối với xã hội, E-learning giúp thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.
Vì những hạn chế của mô hình học tập truyền thống, nên chỉ những ai vượt qua các kỳ thi, học có đủ điều kiện về thời gian và tài chính thì mới có thể vào được giảng đường đại học. Nhưng với đào tạo trực tuyến, cơ hội học tập có thể mở ra với hầu hết mọi người khi mà họ không cần đến lớp, với kết nối Internet là đã có thể nghe được những bài giảng của giảng viên. Các khóa học miễn phí của các trường đại học qua hình thức MOOC giúp sinh viên đang học hoặc đã ra trường có thể dễ dàng bổ sung các kiến thức và kỹ năng mới cần thiết cho công việc hiện tại và sau này (Rennie, F. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận những thách thức mà phương thức đào tạo này phải đối mặt (Arkorful & Abaidoo, 2014; Mirjana, 2010; Hiếu, 2017) [35], [10], [49]: - Sự hiểu biết của xã hội và hành lang pháp lý cho E-learning là rất quan trọng để có thể mở rộng áp dụng phương thức E-learning trong đào tạo truyền thống bên cạnh đào tạo từ xa.
Vấn đề thừa nhận bằng cấp của các hình thức đào tạo trực tuyến vẫn là một thách thức lớn của E-learning. - Nguồn lực đầu tư cho E-learning không hề nhỏ. Bên cạnh đó, sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ cũng là bài toán nan giải cho các nhà đầu tư: công nghệ tốn kém và mang tính rủi ro cao bởi công nghệ nhanh lạc hậu và thường thay đổi. Kinh nghiệm cho thấy nhiều tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới đã thất bại khi đầu tư cho E-learning.
Những thất bại này có thể được lý giải bởi sự phức tạp của giáo dục và công nghệ. 7 - Sự tương tác giữa người dạy và người học vẫn bị hạn chế, đặc biệt đối với các môn học thực hành hay có nhiều khái niệm mới, đòi hỏi phải có sự giải thích, hướng dẫn thao tác từ phía người dạy, cũng như tư duy logic và việc thực hành từ phía người học. Có thể nói, cho đến nay mặc dù một số công nghệ về thực tế ảo đã được ứng dụng, E-learning chưa thể thay thế được các hoạt động liên quan đến rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động. Về nghiên cứu các mô hình đào tạo trực tuyến: Mô hình “E-Learning Quality Model” Theo Upadhyaya và Mallik (2013), trong hệ thống đào tạo trực tuyến, không chỉ liên quan đến quá trình tương tác giữa người dạy và người học, quá trình này còn là một hệ thống kỹ thuật – xã hội.
Mô hình đào tạo trực tuyến này được đề xuất để xem xét, đánh giá nhất quán tác động của nội dung phương tiện, loại ngôn ngữ và mức độ tương tác nhận thức của người học về chất lượng đào tạo trực tuyến [56]. Mô hình “Success factor model for elearning” do Bani-Salameh và cộng sự (2015) đề xuất 05 yếu tố chính tác động đến chất lượng trong môi trường học trực tuyến, bao gồm [40]: Yếu tố con người: những người tham gia vào quá trình học trực tuyến bao gồm người học, người dạy và chuyên viên quản lý. Các đặc điểm của người dạy, người học: tâm thế, kinh nghiệm, nhu cầu, năng lực, văn hóa. là những vấn đề tạo nên hành vi cảu con người trong quá trình dạy và học trực tuyến.
Sự tương tác: đây là yếu tố quan trọng để tạo ra sự kết nối giữa người dạy, người học; đào tạo trực tuyến cần đảm bảo sự trao đổi thông tin giữa những người học với nhau, giữa người học với người dạy và chuyên viên quản lý, chuyên viên kỹ thuật, đồng thời đảm bảo chất lượng của các công cụ tương tác trong quá trình trực tuyến. Một hệ thống đào tạo trực tuyến thành công ít nhất phải cho phép người dùng tham gia nhiều vào môi trường học tập. Các khóa học trực tuyến: Chương trình đào tạo trực tuyến cần được thiết kế tốt về nội dung, các hoạt động dạy và học, phương pháp, hình thức, cách thức kiểm 8 tra đánh giá cũng như các hoạt động hỗ trợ, tư vấn học tập (Annika Andersson & Ake Gronlund, 2009). Môi trường học trực tuyến: bao gồm các yếu tố thuộc về internet, mạng xã hội, công nghệ, kỹ thuật, các công cụ, ứng dụng dạy và học trực tuyến.
Môi trường đào tạo trực tuyến hiệu quả cần hỗ trợ cho người dạy trình bày bài giảng tốt và tăng cường sự trải nghiệm trong lớp học theo nhu cầu người học, giúp người học có thể truy cập dễ dàng để sử dụng tài nguyên và tương tác (Lim và cộng sự, 2013; Sanchez-Franco, 2010). Phản hồi: Quá trình đánh giá chất lượng và sự trải nghiệm của người dạy và người học về môi trường trực tuyến. Mô hình “Extended E-learning success” Anita Lee-Post (2009) đề cập đến vai trò của nhà quản trị trong việc thiết lập các chính sách và hệ thống hỗ trợ cho người dạy, ngoài các yếu tố về người học, người dạy.