Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại các cơ sở đào tạo Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại Trung tâm đào tạo Viettel Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại Trung tâm đào tạo Viettel trong giai đoạn hiện nay 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Lịch sử loài người đã và đang chứng kiến sự phát triển tiến hoá ngày một văn minh hơn của loài người. Quá trình phát triển tiến hoá ấy không thể phủ nhận vai trò của giáo dục, bởi lẽ giáo dục là sợi dây truyền kinh nghiệm sống của mỗi nền văn minh.
Biểu hiện cụ thể của giáo dục đó chính là dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn, dạy học nhằm truyền lại cho thế hệ sau các giá trị văn hoá, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật v. Dạy học vốn xưa nay được xem là một hình thức giáo dục truyền thống. Khi nói đến hình thức dạy học truyền thống, chúng ta thường hình dung có một lớp học được cố định ở một chỗ, có học sinh ngồi trong lớp và có giáo viên đứng giảng. Tuy nhiên, nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong kỷ nguyên nền kinh tế tri thức mà con người có thể tiếp cận một hình thức dạy học khác nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng, người học có nhu cầu học tập ở mọi nơi, mọi lúc, trong nhiều hoàn cảnh.
Đó chính là hình thức dạy học từ xa. Với hình thức này, người học và người dạy không nhất thiết phải có mặt trên lớp học nhưng vẫn chủ động truyền đạt kinh nghiệm lịch sử cho nhau được. Từ những yêu cầu mới này của người học mà hình thức dạy học từ xa (DHTX) đã ra đời. Có thể nói mốc thời gian được ghi nhận đầu tiên về DHTX trên thế giới đó là việc giảng dạy cho giáo sỹ nhà thờ bằng gửi thư từ những năm 50-60 sau công nguyên.
Trong lịch sử hiện đại mốc thời gian được ghi nhận bởi Isaac Pitman dạy phương pháp ghi tốc ký bằng gửi thư ở Anh năm 1840 [48]. Trải qua lịch sử phát triển, tên của lĩnh vực này được thay đổi: học tại nhà, học qua thư từ, học ngoại khóa, học độc lập và học mở rộng. Tất cả các 6 hình thức này đều liên quan đến các hình thức giảng dạy và cách thức học thích hợp về thời gian và nơi học. Hình thức DHTX được hình thành với sự tham gia của các công nghệ như công nghệ in ấn (học qua thư từ), công nghệ phát thanh, điện tín v.
tới truyền thông đa phương tiện và liên lạc điện tử vào những năm 90 của thế kỷ trước. Tivi cũng là một lợi thế cơ bản đã được sử dụng trong DHTX. Sự phát triển của một mạng lưới Tivi được phủ sóng trên phạm vi rộng trở nên phù hợp với mô hình lớp học chỉ với một giáo viên tại chỗ và người học ở nhiều địa điểm khác nhau. Trở ngại của phương thức dạy học này là người học phải sẵn sàng học vào giờ phát sóng.
Tiếp đó là mạng Internet và công nghệ Web, và ngày nay là hệ thống học tập điện tử và các công nghệ DHTT đang khẳng định vị trí trong môi trường học tập. DHTX thực tế đã bắt đầu với sự xuất hiện của “Trung tâm học tập với sự trợ giúp của máy tính” vào năm 1982 ở Rindge, New Hampshire, Mỹ - trường học trực tuyến đầu tiên của quốc gia ở Tây bán cầu này. Từ 1994 - 1995, khi Internet đã trở nên phổ biến chỉ từ một mô hình nhỏ ban đầu của các nhà cung cấp Internet nội bộ, nhờ đó giáo dục trực tuyến đã thực sự bùng nổ. Các lợi ích của giáo dục trực tuyến ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
Chính sự phát triển của công nghệ E-Learning, khả năng tổ chức một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo đã dần phá vỡ tồn tại của những quan niệm trước đây chưa thực sự coi trọng DHTX khi chuyển từ hình thức giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp của máy tính, hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông. Hiện nay, một chương trình đào tạo trực tuyến có cấp bằng có thể dễ dàng được tìm thấy từ các trường cao đẳng, các trường chuyên nghiệp. Hơn nữa các cơ hội từ giáo dục trực tuyến tăng nhanh hàng ngày và bằng cấp trực tuyến đã được những người sử dụng lao động đón nhận một cách bình thường [50]. Theo tác giả Natalie Aranda [49], E-Learning là một thuật ngữ rất rộng.
Nó thường được sử dụng để mô tả môi trường dạy học có sử dụng máy tính. 7 Có rất nhiều công nghệ có thể sử dụng cho E-Learning. Thuật ngữ DHTX được sử dụng để mô tả một môi trường học tập mà địa điểm lớp học, môi trường dạy học thay đổi so với lớp học truyền thống. E-Learning bắt đầu xuất hiện vào khoảng thời gian máy tính được phát triển do nhu cầu thực hành cá nhân.
Trên thực tế, ý tưởng và thực hành về DHTX xảy ra trước thời kỳ của máy tính khoảng 100 năm. Ở Anh, vào năm 1840, các lớp học tốc ký đã được đề xuất bởi các khóa học tương tự qua thư tín. Sự phát triển của dịch vụ bưu điện đã làm cho phương thức của DHTX này thông dụng ở giai đoạn đầu thế kỷ trước. Phương thức này đã làm xuất hiện một số lượng lớn các chương trình giáo dục “thông qua thư tín”.
Máy tính làm cho DHTX dễ dàng hơn và tốt hơn. Tivi, băng video, radio v. tất cả đã góp phần thúc đẩy DHTX phát triển mạnh mẽ. Theo tổ chức Thomson NETg [46], các làn sóng phát triển của E- Learning được chia thành các giai đoạn như sau: + Giai đoạn trước năm 1983 - Kỷ nguyên giáo viên làm trung tâm Đây là giai đoạn phương pháp giáo dục “lấy giảng viên làm trung tâm” - phương pháp phổ biến nhất trong các trường học.
Nhà trường tập trung trách nhiệm dạy học vào giáo viên, coi giáo viên là tâm điểm của hoạt động dạy học, học viên tham gia vào hoạt động này qua lắng nghe, trao đổi tập trung quanh giảng viên và các bạn học. Đặc điểm của phương pháp dạy học này là chi phí tổ chức đào tạo thấp, giáo viên thì chủ động, học viên thì bị động. + Giai đoạn 1984-1993 - Kỷ nguyên đa phương tiện Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin trong các hoạt động của cuộc sống. Các lĩnh vực của công nghệ thông tin như phần cứng, phần mềm được phát triển và được ứng dụng hầu khắp các nước phát triển và lan dần sang các nước đang phát triển.
Các công nghệ cơ bản trong kỷ nguyên đa phương tiện này có thể kể đến là máy tính Macintosh, hệ điều hành Windows 3.1, phần mềm ứng dụng văn phòng PowerPoint v. Sự 8 kết hợp các công nghệ cơ bản này trên máy tính cho phép tạo ra bài giảng có hình ảnh và âm thanh đầy sinh động. Đây được xem như là biểu hiện sơ khai của dạy học có sự trợ giúp của máy tính, hay cụ thể hơn là dựa trên máy tính. Các bài giảng được soạn thảo và phân phối qua các thiết bị lưu trữ như đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm để người học có thể lựa chọn và sử dụng cho quá trình học tập của mình vào bất cứ thời gian, địa điểm nào khi thao tác với máy tính.
Đặc điểm của hình thức dạy học này là giáo viên có thể biết hoặc không biết người học, hạn chế sự trao đổi, hướng dẫn của giáo viên, người học phải tự nghiên cứu nhiều hơn và phải có máy tính. + Giai đoạn 1994-1999 - Làn sóng E-learning thứ nhất Khi công nghệ Web được Tim Berners Lee (người Anh) phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục, đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp dạy học (PPDH) dựa trên nền tảng Web. Sự kỳ vọng vào E- mail, Website, trình duyệt (Browser), ngôn ngữ HTML, truyền thông đa phương tiện tốc độ thấp bắt đầu thâm nhập sâu rộng vào lĩnh vực giáo dục. Tương tác, trao đổi trong QTDH giữa người dạy và người học được tăng cường qua Email, Intranet v.
+ Giai đoạn sau năm 2000 - Làn sóng E-learning thứ hai Hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn của làn sóng này. Giai đoạn này chứng kiến ngôn ngữ lập trình JAVA, truyền thông đa phương tiện tốc độ cao, các ứng dụng mạng dựa trên giao thức Internet (IP – Internet Protocol), công nghệ truy nhập mạng di động 2G, 2,5G, 3G và các công nghệ thiết kế Web tiên tiến. Cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo bắt đầu có nhiều giải pháp hơn cho người học tiếp cận tri thức và người dạy hiện thực hoá ý tưởng truyền đạt tri thức của mình. Sự kết hợp nhuần nhuyễn quan hệ của thầy và trò trong QTDH bằng môi trường công nghệ thông tin và truyền thông đã xuất hiện khái niệm DHTT thân thiện và dễ hiểu hơn khái niệm dạy học từ xa (DHTX).
Ngày nay thông qua DHTT giáo viên có thể hướng dẫn, dạy học 9 viên qua mạng bằng sự kết hợp tương tác giữa hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn mà không cần phải lên lớp. Cũng chính nhờ công nghệ DHTT mà chất lượng giáo dục ngày một nâng cao, tạo ra môi trường học tập mới, linh hoạt và là công cụ quản lý đắc lực cho các nhà QLGD. Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục với chất lượng cao và hiệu quả cao. Cũng như tốc độ phát triển khoa học, công nghệ, tốc độ phát triển E- learing giữa các Châu lục là không đồng đều.
E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Mỹ. Tại đây, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ của công chúng và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90. Tiếp đến là các nước ở châu Âu, trong những năm gần đây đã tập trung phát triển mạnh công nghệ dạy học qua mạng Internet ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Tại châu Á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, do chưa được xã hội công nhận, thiếu đầu tư hạ tầng, chưa có hành lang pháp lý đầy đủ.
Tuy nhiên, khái niệm E-learning đang dần dần chiếm vị thế trong môi trường giáo dục như một PPDH hiệu quả. Ở Việt Nam Dạy học trực tuyến ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện rõ nét cách đây gần 20 năm.