CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP PHẬT HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Giáo dục là hoạt động đặc biệt, có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển của loài người nói chung. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, giáo dục là động lực hàng đầu đem lại cường thịnh, bền vững cho mỗi quốc gia, cho từng dân tộc.
Chính vì thế, quan tâm, đầu tư và nghiên cứu về giáo dục là nhiệm vụ, yêu cầu có tính bắt buộc, đặc biệt trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay. Dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng trong giáo dục, là hoạt động mà hiệu quả của nó quyết định đến chất lượng và thậm chí là cả cơ cấu, sách lược, mục tiêu, biện pháp… của toàn hệ thống. Chính vì thế ngay từ thuở bình minh văn minh nhân loại, khi nghiên cứu về giáo dục, các bậc hiền triết – các nhà giáo dục đã chú ý đến mục tiêu, nội dung và cả phương pháp dạy học. Về nội dung giáo dục, Khổng Tử hướng đến dạy đạo đức, mong muốn truyền dạy được hệ thống luận lý, nhân bản, đạo làm người.
Phương châm giáo dục của Khổng Tử là trước hết phải học lễ - cách làm người, cách sống, sau mới học văn - các tri thức khác phục vụ cho công việc chính trị quốc gia. Khổng Tử luôn chủ trương dùng đức trị. “Làm chính trị (trị dân) mà dùng đức (để cảm hóa dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi cố định mà các ngôi sao khác hướng về cả (tức thiên hạ theo về)” [27, tr. Về phương pháp dạy học, Khổng Tử chủ yếu truyền dạy bằng cách nêu gương, thực hiện học đi đôi với hành, phát huy tinh tích cực của học trò, thường xuyên thực hiện kiểm tra - ôn tập.
Cùng với đó, ông còn rất chú ý đến việc dạy sao phù hợp với từng đối tượng người học. Với Khổng Tử, hiệu quả của việc dạy học không nằm ở khả năng thuộc lòng hay tầm 7 chương trích cú mà ở khả năng vận dụng. Ông từng nhấn mạnh: “Đọc 300 thiên kinh thi, giao cho việc chính trị mà làm không nên; sai đi xử 4 phương mà không biết ứng đối, như vậy đọc nhiều để làm gì?” [27, tr. Có thể nói, những tư tưởng của Khổng tử trong giáo dục - dạy học vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay.
Socrates (469 hoặc 470-399 TCN) là người đặc biệt chú trọng đến các phương pháp dạy học. Ông nổi tiếng với việc dạy học bằng cách đàm luận: thầy đặt câu hỏi, trò tự tìm câu trả lời và từ đó tự tìm ra chân lý. Khi trò hỏi lại thầy, thầy chỉ định hướng, khơi mở hoặc dùng một câu hỏi khác thay cho việc trả lời trực tiếp. Nói riêng về cách đặt câu hỏi của Socrates thì đó thực sự vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, vừa rất cụ thể, gần gũi vừa có thể nâng tầm trở thành kinh điển, có tính chất giáo khoa.
Có thể chia hệ thống câu hỏi của Socrates đối với học trò thành các nhóm: nhóm câu hỏi làm rõ khái niệm, nhóm câu hỏi điều tra các giả định, nhóm tìm hiểu lý do, nguyên nhân và bằng chứng, nhóm hướng về quan điểm và lập trường, nhóm hỏi về ý nghĩa và hậu quả, nhóm câu hỏi nghi vấn những câu hỏi… Ngày nay, sau gần 2500 năm, việc “học thầy Socrates về cách đặt câu hỏi” vẫn là một trong những khẩu hiệu, phương châm được nhiều nhà giáo dục phương Tây cổ xúy. Komenski (1592-1670) cho rằng trong dạy học, có 9 nguyên tắc cần tuân thủ và thực hiện thật tốt. Thứ nhất, tôn trọng thời gian thích hợp; thứ hai, chuẩn bị chất liệu trước khi tạo hình thức; thứ ba, chọn chủ đề thích hợp, tác động một cách thích hợp đến chủ thể để biến chủ thể trở nên thích hợp; thứ tư, đi từng bước theo một lộ trình hợp lý, có tính kế thừa giữa các nội dung học tập; thứ năm, sự phát triển phải diễn ra từ bên trong; thứ sáu, đi từ phổ quát đến đặc thù, thứ bảy, không nhảy vọt nhưng bước từng bước vững chắc; thứ tám, không bỏ giữa chừng; thứ chín, loại trừ các trở ngại và nguy hại. Từ những nguyên tắc kể trên, Komenski đã vận dụng và đúc kết thành nhiều vấn đề lý luận rất sâu sắc, chặt chẽ mà lý thú về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học.
Đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mac-Lê nin, sự phát triển toàn diện của con người làm mục đích chính của giáo dục dạy học. Trong tư tưởng của các ông 8 (C.Ăng-ghen), giáo dục không những là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xã hội, mà quan trọng hơn, còn là tiền đề cho sự phát triển toàn diện các năng lực của con người. Mục tiêu, đích đến của giáo dục là sự phát triển của chính bản thân con người. Mác đã chỉ rõ, nền giáo dục sau này sẽ là nền giáo dục làm cho mỗi một trẻ em, khi đến lứa tuổi nhất định, đều biết “kết hợp trí dục và thể dục với lao động chân tay và do đó, kết hợp lao động chân tay với trí dục và thể dục”, “kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục” và coi đó không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là phương pháp duy nhất để “sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” [39, tr.
Từ những nền tảng kể trên, các nhà giáo dục theo chủ nghĩa Mác- Lênin đã phát triển một nền giáo dục mới hết sức tiến bộ, hướng tới việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, đáp ứng quy luật tất yếu sẽ tiến lên xã hội chủ nghĩa của lịch sử nhân loại. Vấn đề quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đặt ra và nghiên cứu từ rất sớm. Trong hướng tiếp cận chương trình giáo dục mở, không bị đóng kín bởi quy định bắt buộc trong chương trình quốc gia, các nhà nghiên cứu giáo dục nước ngoài đã sớm đặt ra vấn đề phát triển chương trình nhà trường. Theo nghiên cứu của tổ chức UNESSCO trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người thầy có nhiều thay đổi theo các hướng căn bản như: Đảm nhận nhiều chức năng khác trước, có trách nhiệm cao hơn trong việc chọn nội dung dạy học, giáo dục; Chuyển mạnh mẽ từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập cho người học, sử dụng đến mức tối đa nguồn tri thức trông xã hội; Coi trọng hơn việc cá biệt hoá trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; Biết sử dụng rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại do đó cần trang bị thêm kiến thức, kỹ năng hiện đại cần thiết; Thắt chặt hơn với người thân của người học, cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng; Giảng viên tham gia rộng rãi hơn các hoạt động trong và ngoài nhà trường; Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với người học [37].
9 Nền giáo dục New Zealand là một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại. Ngay từ những năm 1990, Bộ GD-ĐT New Zealand đã có nêu vấn đề về vai trò quan trọng của mỗi nhà trường trong việc xây dựng các kế hoạch, triển khai các hoạt động dạy học của trường mình trên cơ sở nghiên cứu chương trình giáo dục quốc gia. Theo đó “Chương trình giáo dục New Zealand đảm bảo sự mềm dẻo, cho phép các trường cùng giáo viên thiết kế chương trình phù hợp với nhu cầu học tập của học sinh mình. Chương trình nhà trường được tổ chức linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của mỗi học sinh, phù hợp với cách hiểu mới về các phong cách học khác nhau của học sinh, phù hợp với những thay đổi trong điều kiện kinh tế - xã hội, phù hợp với những yêu cầu và kỳ vọng của cộng đồng địa phương”.
Ở Pháp, quản lý hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới bằng việc các trường chuyên ngành tuyển đầu vào rất giới hạn so với các trường khác, đào tạo đội ngũ trí thức chất lượng cao cho nhà nước, SV phải học 2 năm dự bị và trải qua kỳ thi rất cạnh tranh, nếu không vượt qua kỳ thi đó SV phải chuyển sang học năm 3 tại ĐH tổng hợp hoặc Học viện kỹ thuật khác để lấy bằng cử nhân. SV tốt nghiệp có bằng cử nhân ở đây còn có giá trị hơn bằng thạc sĩ ở cơ sở đào tạo khác. Hệ thống giáo dục Pháp coi trọng thi cử và bằng cấp nên dạy học cũng luôn được cải tiến và quản lý nghiêm ngặt theo một quy trình đặc thù nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới. Hoa kỳ coi trọng dân chủ trong giáo dục và quản lý hoạt động dạy học, cụ thể: Người học có quyền lựa chọn và quyết định: chọn trường, môn học, GV.
Ngoài môn học bắt buộc người học được chọn môn học, giờ học theo nhu cầu, trình độ. GV có định hướng phát triển, hướng dẫn người học theo nhu cầu dựa trên nền tảng kinh nghiệm của người học. Người học tham gia tích cực vào quá trình học tập của mình, GV là người hướng dẫn, định hướng chứ không phải là người dạy, học viên là trung tâm, chủ đạo trong quá trình học tập, khi đó đòi hỏi Hiệu trưởng phải có kiến thức, hiểu biết, kỹ năng để xây dựng môi trường giáo dục, dạy học dân chủ hướng đến sự phát triển nhân văn và bình đẳng trong xã hội. Cần quan tâm đến tâm hồn người học, trường học là môi trường người học cảm thấy an toàn, được tự lập và được quyết định, không áp đặt; kêu gọi sự tham gia của tất cả mọi người.
Các nghiên cứu trong nước Thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê nin, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa giáo dục phương Đông và phát huy các giá trị tích cực của nền văn hóa truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng là kim chỉ nam cho hệ thống giáo dục cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc mở mang dân trí, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Người đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại là nâng cao dân đức, mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển, đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.