Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn theo hướng PTNL Tại Việt Nam gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về dạy học, dạy học theo hướng PTNL, cụ thể có các công trình nghiên cứu như sau: Tưởng Duy Hải (2018), nghiên cứu về hoạt động dạy học bộ môn Ngữ văn theo hướng PTNLHS thông qua hình thức tổ chức trải nghiệm. Nghiên cứu này khẳng định vai trò quan trọng, sự cần thiết phải tổ chức hoạt động dạy trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn.
Các quy trình, cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS cũng đã được các tác giả đề cập cụ thể. [36] Phạm Thị Thu Hương (2020) cùng nhóm các tác giả đã tập trung nghiên cứu và biên soạn giáo trình dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Bên cạnh trình bày các vấn đề dạy học môn Ngữ văn theo hướng PTNLHS một cách toàn diện, giáo trình này đồng thời hướng dẫn nội dung, quy trình, phương pháp và cách thức ĐGKQDH môn Ngữ văn theo hướng phát triển toàn diện năng lực học sinh. Đoàn Thị Thanh Huyền (2021) nghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn theo hướng PTNL tiếp cận dưới góc độ ĐGKQDH, nhóm tác giả đã hướng dẫn xác định công cụ đánh giá, xây dựng quy trình, phương pháp ĐGKQDH môn Ngữ ở trường THCS theo hướng đánh giá năng lực học sinh.
Những nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn theo hướng PTNLHS Quản lý dạy học, quản lý dạy học môn Ngữ văn theo hướng PTNLHS là một trong những vấn đề nổi trội nhận được sự quan tâm của các nhà quản lý giáo dục trong những năm gần đây. Chính vì vậy mà nó đã trở thành đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục. Các nghiên cứu này đều hướng tới mục tiêu làm thế nào để quản lý tốt hoạt động dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là dạy học theo hướng PTNLHS.Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Lê Hoàng Hà (2012) nghiên cứu về hoạt động QLDH nói chung trong đó có QLDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNLHS tiếp cận dưới góc độ dạy học phân 5 hóa. Trong đó, tác giả đã đưa ra một số biện pháp dạy học theo hướng phân hóa ở trường phổ thông nhằm hình thành PTNLHS.
Bùi Thu Trang (2016) nghiên cứu về quản lý dạy học theo định hướng PTNLHS ở trường THCS Nam Trung Yên, Quận Cầu Giấy, Hà Nội trong đó có dạy học môn Ngữ văn. Tài liệu này làm rõ thực trạng, nhũng hạn chế trong quản lý HĐ DH theo định hướng PTNLHS hiện nay ở trường THCS Nam Trung Yên, Quận Cầu Giấy, Hà Nội đồng thời đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả DH theo định hướng PTNLHS ở trường THCS. Nguyễn Thị Trâm (2022) nghiên cứu dạy học môn Ngữ văn theo CTGDPT 2018 ở trường THCS đã xác định yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy môn Ngữ văn cũng như năng lực cần đạt được ở giáo viên trong dạy học môn Ngữ văn theo CTGDPT 2018; khảo sát nghiên cứu đánh giá thực trạng về dạy học và QLDH môn Ngữ văn theo CTGDPT 2018 ở các trường THCS Thành phố Nam định chỉ rõ những hạn chế, bất cập và đề xuất các biện pháp để nâng cao CLDH môn Ngữ văn theo CTGDPT 2018 ở trường THCS Thành phố Nam định, tỉnh Nam định. [32] Có thể nói, trong thực tế, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt được những thành tựu nhất định về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên việc áp kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của các nhà trường. Tuy nhiên, ở các trường THCS trong địa bàn thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh. Điều này có lẽ xuất phát từ thực tế: Chương trình giáo dục phổ thông mới bắt đầu được triển khai ở lớp 6 & 7.
Luận văn này sẽ kế thừa, tiếp thu một cách chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan, để tập trung nghiên cứu và đưa ra những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS trong thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đáp ứng được yêu cầu chương trình GDPT 2018. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Năng lực, phát triển năng lực 1. Năng lực Theo các cách tiếp cận khác nhau, phạm trù năng lực được hiểu khác nhau.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê, năng lực được hiểu là là: Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm 6 lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [28]. Theo “Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng”, năng lực là một từ Hán Việt, trong đó, “năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh; năng lực là sức mạnh làm nổi việc nào đó”. Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, định nghĩa năng lực được hiểu là “đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, trí nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân’’ Về nguồn gốc, khái niệm năng lực (Tiếng Anh: Competency) bắt nguồn từ tiếng La tinh “competencia”.
Trên thế giới và tại Việt Nam, có rất nhiều các quan điểm về năng lực. Nhưng tựu chung lại, năng lực có thể được hiểu một cách đơn giản là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. Năng lực là một yếu tố cơ bản của nhân cách nên mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và được hình thành theo quy luật hình thành và phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Năng lực ở mỗi con người có được nhờ vào sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn [45].
Có quan điểm khác lại cho rằng, năng lực hiểu là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định. Hoặc năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ, một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng. kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động khác nhau. Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm về năng lực trên cho thấy, mỗi nhà nghiên cứu đứng ở những góc độ tiếp cận vấn đề khác nhau để trình bày những quan niệm khác nhau về năng lực, tuy nhiên các tác giả đều dựa trên những điểm chung nhất: Một là, khi nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện, có khả năng biết làm và đạt hiệu quả, chứ không chỉ đơn thuần là biết và hiểu.
Hai là, hoạt động làm việc phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, kĩ xảo chứ không phải làm việc nhưng lại không hiểu gì và không có hiệu quả. Từ khái niệm năng lực, lại xuất hiện khái niệm về năng lực hành động. Năng lực hành động là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và những thuộc tính tâm lí cá nhân khác (hứng thú, niềm vui, ý chí. để thực hiện thành công một loại công việc nào đó trong bối cảnh nhất định.
Năng lực hành động của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân khi giải quyết những vấn đề của cuộc sống. 7 Trên cơ sở các quan điểm tiếp cận và phân tích trên về năng lực, tác giả quan niệm: ”Năng lực học sinh khả năng làm chủ và vận dụng những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ của lứa tuổi học sinh một cách hợp lý vào việc thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ học tập, đáp ứng được các yêu cầu thực tế đặt ra trong cuộc sống”. Phát triển năng lực học sinh Phát triển năng lực học sinh được hiểu là quá trình biến đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ,. phù hợp với lứa tuổi học sinh, nhằm tăng cường khả năng vận dụng và phát huy hiệu quả nhất những kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh, góp phần quan trọng trong việc phát triển toàn diện phẩm chất, nhân cách học sinh.
Do đó, PTNL học sinh sẽ chú trọng việc định hướng, hướng dẫn cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế, hình thành và phát triển những kỹ năng, thái độ để giải quyết các tình huống mà thực tế học tập, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Vì vậy, để PTNL cho HS, nội dung chương trình giáo dục phải đảm bảo kiến thức kiến thức trọng tâm, cơ bản; giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, yêu cầu học sinh biết vận dụng kiến thức cơ bản, kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề, các tình huống trong thực tiễn đời sống. Hoạt động dạy học, dạy học theo hướng PTNLHS 1. Hoạt động dạy học Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm dạy học.
Cụ thể: Nhìn chung, hoạt động dạy học được hiểu là hoạt động truyền đạt kiến thức của người dạy với người học, đồng thời định hướng, giúp người học hình thành thái độ, kỹ năng và hệ thống kiến thức cũng như vận dụng kiến thức trong thực tiễn. Không đồng nhất với quan niệm trên, nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm riêng của mình về khái niệm dạy học. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [24].