phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có kết cấu 3 chương. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 ở các trường mầm non Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 ở các trường mầm non huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 ở các trường mầm non huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ CHO TRẺ 5-6 TUỔI VÀO HỌC LỚP 1 Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 Chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 nhằm đảm bảo tính liên tục, kế thừa trong sự phát triển. Sự phát triển của trẻ là một quá trình phát triển liên tục và thống nhất qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn phát triển mang những đặc điểm riêng, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là một sự thay đổi lớn cả về lượng và chất.
Sự phát triển của trẻ ở một giai đoạn vừa là kết quả vừa là tiền đề, cơ sở cho sự phát triển ở giai đoạn sau. Nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn trước cũng chính là sự chuẩn bị tốt cho giai đoạn tiếp theo này. Đây cũng chính là quan điểm chỉ đạo của ngành giáo dục đối với bậc học Mầm non nhằm đảm bảo sự chuyển giai đoạn giữa giáo dục mầm non nói chung, giáo dục để chuyển giai đoạn cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng vào lớp 1. Với trẻ khi vào lớp 1 là “bước ngoặt”, hoạt động chủ đạo chuyển từ hoạt động chơi sang hoạt động học.
Trẻ bắt đầu tham gia vào các hoạt động bắt buộc có ý nghĩa xã hội, chịu trách nhiệm trước giáo viên và nhà trường trong hoạt động học tập. Do vậy, giáo dục mầm non đã giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và bồi dưỡng con người. Đây là nhiệm vụ khó khăn cho các nhà giáo dục, vì lứa tuổi mầm non là độ tuổi khó giáo dục và cũng là lứa tuổi ban đầu hình thành nhân cách của một con người. Tác giả Bianka Zazzo với công trình nghiên cứu “ Bước chuyển lớn từ Mẫu giáo lên lớp 1” đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm việc chuẩn bị về các mặt nói chung của trẻ mẫu giáo lớn.
Đồng thời, bà càng làm rõ hơn những vấn đề khó khăn của học sinh lớp 1 ở nước Pháp. Công trình của bà ít giải quyết các vấn đề lý luận mà nhằm vào giải quyết các mặt thực tiễn của vấn đề [Dẫn theo 31]. Nghiên cứu của C.Sukina đề cập đến vấn đề thích ứng của học sinh lớp 1. Bà cũng cho rằng học sinh lớp 1 có gặp khó khăn tâm lý khi đến trường Tiểu học.
Nghiên cứu của bà đã chỉ ra rằng sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi với hoạt động học tập là không như nhau và có 3 trình độ: cao, trung bình và thấp với những biểu hiện cụ thể. Bà cũng chỉ ra phương pháp tác động sư phạm ở trường mẫu giáo và trường tiểu học ảnh hưởng lớn tới sự thích ứng của trẻ. Bà cho rằng, để giúp trẻ thích ứng tốt với hoạt động học tập cần có giai đoạn quá độ mà ở đó phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi và quan hệ cô cháu của trường mẫu giáo được duy trì trong nửa năm đầu lớp 1 [Dẫn theo 30].kurbawa và Ph.rakhmatinlira đi sâu vào nghiên cứu các nhóm kỹ năng giao tiếp và chia kỹ năng giao tiếp thành 3 nhóm kỹ năng, bao gồm: Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chào hỏi, kỹ năng diễn đạt các đặc điểm, văn phạm trong câu: Ở kỹ năng này xem xét xem trẻ có sử dụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật, hiện tượng hay không? Trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơn giản của đồ vật, trẻ có biết sử dụng từ “đang” để nói về các hoạt động xảy ra hiện tại, về các đại từ sở hữu, các đại từ nhân xưng mà trẻ sử dụng, về các câu trẻ muốn nói về thời tương lai và quá khứ [Dẫn theo 2]. Tác giả Lê Xuân Hồng (1995), với cuốn giáo trình “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”, trong đó đã đề cập đến sự phát triển các kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non và thúc đẩy sự phát triển kỹ năng hợp tác là một trong những mục tiêu cần thiết và được thể hiện qua nhiều hình thức: Giúp trẻ hoà nhập với trẻ khác, tạo cơ hội cho trẻ chơi và làm việc với trẻ khác, giúp trẻ học cách tham gia vào một trò chơi, tạo những cảm nhận giúp trẻ tôn trọng những quyền lợi của trẻ khác, chia sẻ và cảm thông [21].
Trong cuốn sách “Tâm lý học trẻ lứa tuổi mầm non”, của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (2011), đã chỉ rõ các khía cạnh ảnh hưởng của bạn đến quá trình phát triển của trẻ, vai trò của bạn ngang đối với trẻ, sự tương tác với bạn ngang hàng phát triển ở trẻ mô hình kỹ năng xã hội cơ bản, phát triển cách ứng xử giữa bạn bè với nhau và mọi người xung quanh…. Như vậy, bạn bè là những tác nhân để trẻ điều chỉnh hành vi, so sánh hành vi xã hội của mình, là tấm gương phản chiếu và điều chỉnh hành vi của trẻ. Chính sự tương tác diễn ra trong các hành động chơi có tính hợp tác,… chính vì thế khi xuất hiện các trò chơi cần có sự hợp tác với nhau thì trẻ mới có tiêu chuẩn về bạn [44]. Tác giả Lê Minh Thuận với cuốn sách “Trò chơi phân vai theo chủ đề và việc hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo” cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề hợp tác của trẻ giữa bạn bè với nhau thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề và trò chơi cũng được xây dựng hướng dẫn theo từng độ tuổi một cách rõ ràng [41].
Tác giả Nguyễn Thị Oanh (2000), luận án tiến sĩ giáo dục học về “Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi” [30]. Luận án của tác giả đã làm sáng tỏ tính khoa học và thực tiễn “Lý thuyết hoạt động” và vùng phát triển gần trong khoa học giáo dục. Góp phần làm sáng rõ hơn “Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn” và xây dựng 4 tiêu chí đánh giá mức độ phát triển lời nói mạch lạc của trẻ ở lứa tuổi này. Đề xuất và bước đầu ứng dụng 9 biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi [30].
7 Tác giả Nguyễn Hồng Thuận (2002), với luận án tiến sĩ “Một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ em mẫu giáo 5-6 tuổi” [40]. Trong luận án, tác giả đã phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan tới nghiên cứu ở các góc độ triết học, xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, ngôn ngữ học để nghiên cứu tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi [40]. Đây là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa khi đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp có liên quan đến việc phát huy vai trò của gia đình khi chuẩn bị về tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi bước vào lớp 1 ở các trường mầm non huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình hiện nay. Luận án tiến sĩ của Lê Thị Minh Hà (2002), về “Những điều kiện tâm lý của việc tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao chất lượng trí nhớ có chủ định của trẻ 5-6 tuổi” [18].
Luận án đã hệ thống và vận dụng một số điều kiện tâm lý của việc tổ chức trò chơi học tập, nhằm làm tăng hiệu quả trí nhớ có chủ định của trẻ 5-6 tuổi, chú trọng hai khía cạnh khối lượng tài liệu nhớ và độ chính xác khi nhớ lại [18]. Đây là cơ sở để tác giả phân tích đặc điểm phát triển tâm, sinh lý lứa tuổi của trẻ 5-6 trong luận văn, để chuẩn bị vào lớp 1. Tác giả Lê Thị Hà (2002), với luận án tiến sĩ “Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” [19]. Đề tài luận án đã tìm hiểu một số vấn đề về sự phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ em; nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực, mối quan hệ giữa thể lực và trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi; đề xuất một số biện pháp để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
Đây là những vấn đề có giá trị để chúng tôi tiếp cận đề xuất cách thức biện pháp nhằm chuẩn bị tốt nhất về thể chất, tinh thần cho trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 hiện nay. Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến (2002), với luận án tiến sĩ giáo dục học về “Các biện pháp tổ chức giáo dục hòa nhập nhằm chuẩn bị cho trẻ khuyết tật thính giác vào lớp 1” [47]. Luận án tiếp cận ở một đối tượng đặc thù ở trường mầm non đó là các trẻ bị khuyết tật bẩm sinh thính giác, tác giả đã đề xuất một số biện pháp có tính khả thi cao nhằm phát huy tối đa tiềm năng của trẻ và góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung [47]. Cùng với sách, đề tài, luận án của các tác giả ngoài nước, trong nước bàn luận về việc chuẩn bị thể chất, tinh thần, kiến thức cho trẻ mẫu giáo chuẩn bị vào lớp 1, còn nhiều bài báo khoa học, bàn luận về các nội dung chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1, như: 8 Tác giả Trần Y Lan (2018), với bài báo “Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào lớp 1” [27].
Bài báo khẳng định Giáo dục mầm non có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là khâu đầu tiên của quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người, đồng thời góp phần chuẩn bị cho trẻ đến trường tiểu học. Trẻ bước vào lớp 1 có sự chuyển dần hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang hoạt động học tập. Đây là quá trình rất cần có sự tổ chức, hướng dẫn và giáo dục đúng đắn của cả gia đình, nhà trường và xã hội.