CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Từ những năm 1940, khi bắt đầu xuất hiện các chương trình viện trợ song phương và đa phương, trong đó có ODA thì những nghiên cứu về chủ đề này, cả về phương thức và tác động của ODA cũng có sự phát triển cùng với sự phát triển của ODA trong thực tiễn. Trong giai đoạn đầu, những thảo luận về ODA chủ yếu chỉ giới hạn trong tài liệu chính thức, chủ yếu là các báo cáo nội bộ của các cơ quan tài trợ và bộ ngoại giao của các nước tài trợ hầu như không được công bố. Theo thời gian và đặc biệt là hướng đến mục đích nâng cao hiệu quả của ODA thì cũng xuất hiện ngày càng nhiều các nghiên cứu về ODA được công bố.
Nói chung, các chủ đề nghiên cứu xung quanh ODA rất đa dạng, từ vấn đề về khái niệm, vị trí, vai trò của ODA đến vấn đề làm thế nào để các nước đang phát triển thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA nói chung cũng như vào những ngành, những lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế các nước này. Có thể phân loại các nghiên cứu về chủ đề này thành các nhóm sau: 1. Các nghiên cứu về ODA và vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển Định nghĩa về ODA lần đầu tiên được DAC (The OECD’s Development Assistance Committee - Ủy ban giải quyết các vấn đề về hợp tác phát triển của OECD) xác định vào năm 1969 dựa trên sự đồng thuận của các thành viên về một loại biện pháp hỗ trợ các nước đang phát triển. Mặc dù đã có hơn 40 năm định nghĩa về ODA được đưa ra lần đầu tiên đó là tiêu chuẩn toàn cầu để đo lường các nỗ lực của các nhà tài trợ trong việc hỗ trợ các mục tiêu hợp tác phát triển nhưng những cuộc thảo luận xung quanh khái niệm ODA hay đề xuất cách tiếp cận mới để đo lường nỗ lực viện trợ chưa bao giờ kết thúc (Hynes, W.
Tuy nhiên, đến gần đây thì việc xem xét một nguồn hỗ trợ chính thức có phải là ODA hay không sẽ dựa vào ba tiêu chí chính: vốn phải được cung cấp bởi các cơ quan chính thức bao gồm chính quyền nhà nước và địa phương; mục tiêu chính của họ là thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển; và phải có tính chất ưu đãi, với tỷ lệ ưu đãi ít nhất là 25% (UNCTAD, 2019, p. 6 Vị trí và vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển cũng là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của rất nhiều tổ chức, học giả, nhà nghiên cứu ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển. Hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra nhận định rằng nguồn vốn ODA đóng vai trò là một nguồn vốn bổ sung rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế cũng như giải quyết các vấn đề xã hội ở nhiều nước đang và kém phát triển – những nước luôn thiếu hụt các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Chenery & Strout (1996) đã lập luận rằng hỗ trợ phát triển từ các nước giàu cho các nước đang phát triển sẽ thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo, bằng cách cung cấp một lượng vốn cấn thiết ở giai đoạn đầu, rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
(2001) nghiên cứu về ảnh hưởng của ODA tới tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển đã thấy được mối quan hệ tích cực giữa ODA và tăng trưởng GDP bình quân đầu người. Rob Tew (2013) đã có những phân tích sâu sắc về sự tác động, vai trò của vốn ODA đến kinh tế của các quốc gia được vay vốn ODA. Trên thực tế những khoản vay nợ ODA đang ngày càng tăng để đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc dư nợ của những quốc gia này cũng gia tăng.
Các nghiên cứu của Boone (1996), Lensink và Morrissey (2000) đã tập trung đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển từ góc độ kinh tế vi mô, chỉ ra các hạn chế và tác động xấu của các nước đang phát triển khi tiếp nhận nguồn vốn ODA. Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ổn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách tài chính và đầu tư của nước nhận viện trợ. Các nghiên cứu này đã nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà tài trợ trong chính sách ODA. Hơn nữa, các tác giả đã khẳng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA của nước nhận viện trợ.
Cũng có khá nhiều nghiên cứu về vai trò của ODA đối với một quốc gia hay một nhóm quốc gia cụ thể. Assefa Abebe (2013) nghiên cứu vai trò của ODA trong phát triển kinh tế dựa trên kinh nghiệm của Hàn Quốc đã chỉ ra rằng ở các quốc gia mà ở đó các cơ quan thuộc chính phủ có thẩm quyền và trách nhiệm, các chính sách kinh tế mạnh thì ODA đóng vai trò như một chất xúc tác thúc đẩy phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Tác giả cũng chỉ ra rằng hiệu quả của ODA không chỉ phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên trong. 7 Teboul và Moustier (2001) cho thấy lượng vốn ODA từ bên ngoài ảnh hưởng tích cực đối với trường hợp của các nước trong tiểu vùng Sahara châu Phi.
Hỗ trợ phát triển từ nước ngoài đã tác động gia tăng tiết kiệm và tăng trưởng GDP, góp phần phát triển kinh tế các nước tiếp nhận ODA của sáu quốc gia đang phát triển trên biển Địa Trung Hải giai đoạn 1960 – 1966. (2007) dựa trên dữ liệu thu thập trong giai đoạn 1980 đến 2001 để xem xét tác động của viện trợ nước ngoài đối với tăng trưởng nông nghiệp và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Melanesia (gồm Fiji, Papua New Guinea, Solomon Islands, Vanuatu và New Caledonia) và kết luận rằng có bằng chứng cho thấy viện trợ nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và không có bằng chứng cho thấy sự tác động tích cực đến ngành nông nghiệp. còn có một nghiên cứu chung với McGillivray (2010) đã chỉ ra viện trợ có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng thu nhập thực tế bình quân đầu người đối với một lượng lớn các quốc đảo nhỏ mặc dù sự tăng trưởng đó có xu hướng giảm dần. Selaya và Thiele (2010) nghiên cứu dựa trên dữ liệu 65 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1962–2001 đã nhận thấy rằng viện trợ có tác động tích cực đáng kể đối với tăng trưởng trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và cũng không có tác động đến tăng trưởng nông nghiệp.
Cũng có những nghiên cứu đi sâu phân tích cụ thể về tác động của ODA đến một hay một số lĩnh vực cụ thể ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu của Lin Moe, T. (2008) dựa trên dữ liệu về ODA được cung cấp trong khoảng thời gian 1990 – 2004 về mối quan hệ giữa ODA và phát triển con người và giáo dục ở các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, tập trung chủ yếu vào Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Thailand, Philippines, Laos và Việt Nam đã đưa ra nhận định rằng về tổng thể nguồn vốn ODA cũng như nguồn vốn ODA nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội có tác động tích cực đáng kể với phát triển con người. Tác giả cũng chỉ ra rằng nguồn vốn ODA cung cấp cho các cấp học nói chung, cho cấp trên trung học phổ thông có mối liên hệ đáng kể với phát triển con người và ODA cung cấp cho giáo dục cơ bản, giáo dục trung học và sau trung học có mối quan hệ đáng kể với phát triển giáo dục mặc dù vẫn còn những khoảng cách trong các khía cạnh của phát triển con người như thu nhập, giáo dục và y tế ở từng quốc gia cũng như giữa các quốc gia với nhau.
Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể xem là căn cứ giúp các nhà tài trợ lựa chọn, thiết kế các chương trình hỗ trợ và các quốc gia nhận hỗ trợ sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra. Herzer & Morrissey (2013) đưa ra những bằng chứng cho thấy ảnh hưởng tích cực của các khoản ODA cho các dự 8 án về cơ sở hạ tầng dù không đảm bảo là sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng. Nhận định của tác giả nhất quán với quan điểm cho rằng ODA góp phần vào tăng trưởng về tổng thể do các tác động của nó đến các yếu tố quyết định khác của tăng trưởng kinh tế, như trường hợp ODA tài trợ cho khu vực xã hội hoặc đầu tư cho con người thì có thể sẽ mất nhiều năm mới mang lại tác động rõ ràng đến tăng trưởng. ODA cũng có thể có những tác động tức thời bởi các khoản chi tiêu của chính phủ hay việc đánh thuế và vay nợ có thể thay đổi do tác động của những khoản ODA này (Tony Addison, Oliver Morrissey & Finn Tarp, 2017).
Các nghiên cứu về quản lý và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở các nước đang phát triển Việc sử dụng ODA như thế nào để mang lại hiệu quả thực sự là một câu hỏi lớn với nhiều nước đang phát triển và vì thế chủ đề quản lý và sử dụng ODA cũng thu hút sự quan tâm chú ý của các tổ chức và các học giả. Thực tế đã có khá nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu hướng đến mục tiêu tăng cường thu hút, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA đối với các nước đang phát triển. Cũng có những công trình tập trung phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA cũng như tác động của nguồn vốn này đối với phát triển KTXH của quốc gia tiếp nhận. Antonio Tujan Jr (2009), đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA là: sự cởi bỏ vô điều kiện viện trợ, bao gồm cả viện trợ lương thực và hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực sản xuất với đời sống của người nghèo thông qua các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.