Lời mở đầu và Kết luận, bài nghiên cứu bao gồm 4 phần chính: Phần 1. Cở sở lý thuyết về tính độc lập ngân hàng trung ương và mối quan hệ của tính độc lập của ngân hàng trung ương với lạm phát. Thực trạng về tính độc lập của ngân hàng Nhà nước Việt Nam và lạm phát qua các giai đoạn. Phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa tính độc lập của ngân hàng Nhà nước Việt Nam với lạm phát.
Bài học kinh nghiệm và ý kiến đề xuất Đóng góp của đề tài Cả về ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn ứng dụng Ý nghĩa khoa học: Đề tài thực hiện nghiên cứu bằng phương pháp định lượng đầu tiên trong kiểm tra mối quan hệ giữa tính độc lập của NHNN với lạm phát. Bên cạnh đó, 1 Chuỗi tỷ lệ lạm phát động từ năm 1996 – 2013. 2 Do hạn chế số liệu, các biến trong mô hình hồi quy được lấy từ năm 2000 – 2013. 3 Tỷ lệ lạm phát động là chuỗi tỷ lệ lạm phát theo thời gian.
3 bài nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị với phá vỡ cấu trúc để xác định mối quan hệ này (từ đề tài của Arnone and Romelli, 2013 chỉ áp dụng trên các nước OECD), áp dụng tại một quốc gia đang phát triển là Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn: Bài nghiên cứu khẳng định mối quan hệ giữa lạm phát với sự độc lập của NHNN Việt Nam, từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm cải thiện mức độ độc lập của NHNN hiện tại, hướng tới bình ổn giá cả, phát triển kinh tế. Hướng phát triển của đề tài Do hạn chế của việc thu thập số liệu, chỉ số độc lập mà nhóm sử dụng để đánh giá mức độ độc lập của NHNN Việt Nam là chỉ số độc lập pháp định. Tuy nhiên, như lập luận trong một số các nghiên cứu trước đây ủng hộ chỉ số độc lập thực tế, hạn chế trong luật pháp cũng như thể chế ở các nước đang phát triển chính là nguyên nhân làm chỉ số độc lập pháp định không diễn tả chính xác mức độ độc lập của NHTW.
Bởi vậy, khi giải quyết được vấn đề số liệu để đo lường chỉ số độc lập thực tế thì các nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng chỉ số độc lập thực tế để xác nhận lại xem liệu kết quả về việc tồn tại mối quan hệ này là có còn đúng hay không. Nghị định 156/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ tháng 12/2013, đã nới lỏng hơn trong việc NHNN Việt Nam có quyền quyết định việc sử dụng các công cụ chính sách nào để thực hiện mục tiêu của mình. Đây là một cải tiến hết sức rõ rệt trong mức độc lập của NHNN Việt Nam và điều này gợi ý đến việc phát triển nghiên cứu sau vài năm nữa, nhằm đánh giá sự thay đổi mức độ độc lập này có tác động tích cực đến công tác điều hành chính sách tiền tệ và kiểm soát lạm phát của Việt Nam hay không? 4 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI LẠM PHÁT 1.
Tổng quan về ngân hàng Trung ương 1. Lịch sử hình thành & khái niệm, bản chất của NHTW Thời kỳ thứ nhất: sơ khai hình thành nghề ngân hàng. Khoảng 3500 trước Công nguyên, trên thế giới, các nền văn minh đã bắt đầu phát triển rực rỡ. Con người bắt đầu sử dụng kim tệ (tiền kim loại đúc bằng đồng, bạc, vàng) trong lưu thông.
Tuy nhiên, các thương nhân thời bấy giờ lại gặp rắc rối với việc làm sao để bảo vệ an toàn tiền bạc của mình trong khi cướp bóc và chiến tranh xảy ra thường xuyên, rủi ro trong vận chuyển tiền trên những khoảng cách địa lý lớn, hay xử lý thế nào với những đồng tiền bị hao mòn để có thể lưu thông bình thường. Để giải quyết vấn đề này, họ đi tới những chùa chiền, nhà thờ, những người quyền quý trong xã hội,… Nghề ngân hàng ra đời ban đầu với những nghiệp vụ hết sức đơn giản: nhận bảo quản tiền và thu thù lao bảo quản, đổi chác tiền đúc và ăn hoa hồng,… Thuật ngữ Ngân hàng bắt đầu xuất hiện (Bank) cùng với hình ảnh những chiếc bàn dài nhiều ngăn để cất giữ tiền, sổ sách, giấy tờ… (theo tiếng Latin là Bancus). Nghề ngân hàng sơ khai như vậy xuất hiện ở Hy Lạp và lan rộng ra những nước khác. Thời kỳ thứ hai: Những nghiệp vụ ngân hàng cơ bản xuất hiện.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nghiệp vụ ngân hàng cũng dần phát triển. Các chủ ngân hàng đã bắt đầu biết sử dụng sử dụng số hiệu tài khoản để ghi chép. Từ đó, nghiệp vụ bù trừ và chuyển ngân phục vụ cho thanh toán các giao dịch được diễn ra một cách tiện lợi và nhanh chóng hơn. Các chứng thư do ngân hàng phát hành giúp các thương nhân có thể dễ dàng nhận tiền ở một ngân hàng khác liên quan.
Các hoạt động trả tiền trước cho thương phiếu chưa đáo hạn theo cách chiết khấu tiền lãi (ngày nay còn gọi là nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ bảo lãnh) bắt đầu xuất hiện. Thời kỳ thứ ba: Định hình và phát triển hệ thống ngân hàng, hình thành NHTW. Từ thế kỷ XVI đến nay, cũng với những bước tiến vượt bậc trong nền văn minh nhân loại, ngành ngân hàng cũng phát triển và đã, đang là một bộ phận có vai trò vô cùng 5 quan trọng trong nền kinh tế. Bắt đầu từ đây, hệ thống ngân hàng đã được định hình qua 3 giai đoạn: Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, các ngân hàng thương mại đã bắt đầu sử dụng kỳ phiếu và mỗi ngân hàng thương mại sẽ phát hành một loại kỳ phiếu riêng, gây ra tình trạng khó khăn và cản trở lưu thông hàng hóa do một nước lại có quá nhiều kỳ phiếu ngân hàng cùng được sử dụng.
Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng xảy ra, các kỳ phiếu của những ngân hàng có quy mô lớn, uy tín ngày càng chiếm ưu thế và lưu thông rộng rãi. Những ngân hàng vừa và nhỏ lúc này phải sử dụng các kỳ phiếu của các ngân hàng lớn phát hành, dần dần xuất hiện sự phân hóa giữa các ngân hàng thương mại phát hành kỳ phiếu (ngân hàng phát hành) và các ngân hàng thương mại không phát hành kỳ phiếu. Giai đoạn II (khoảng từ đầu TK XVIII đến đầu TK XX): lúc này quá trình cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ và gay gắt. Bên cạnh quy luật kẻ mạnh thắng người yếu thì sự tác động, trợ giúp của chính quyền nhà nước cũng giữ vai trò rất quan trọng.
Thậm chí nhà nước còn can thiệp trực tiếp bằng các ra những sắc luật cho phép ngân hàng nào được quyền phát hành, tạo nên ngân hàng phát hành độc quyền. Lúc này hệ thống ngân hàng ở mỗi quốc gia phân hóa thành 2 cấp rõ rệt: - Hệ thống ngân hành phát hành: chỉ giao dịch với các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng. - Hệ thống các ngân hàng trung gian (gồm các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng): giao dịch trực tiếp với khác hàng. Giai đoạn III: Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, hầu hết các nước bắt đầu quốc hữu hóa ngân hàng phát hành để hợp pháp vị trí độc tôn của ngân hàng phát hành, đồng thời củng cố quyền lực và quyền lợi của nó trong xã hội.
Theo đó, nhà nước sẽ mua lại toàn bộ số cổ phần của ngân hàng phát hành, biến ngân hàng phát hành thuộc sở hữu tư nhân thành ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước (Ngân hàng công), và từ đây, hình thành ngân hàng Trung ương. Khái niệm, bản chất của NHTW Sách Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương trường ĐH Kinh tế TP.HCM đã đưa ra khái niệm về NHTW như sau: “NHTW là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc. NHTW 6 là bộ máy tài chính tổng hợp, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế.” Bản chất của NHTW thể hiện qua những nội dung sau: - Là ngân hàng phát hành độc quyền của nhà nước. - Là thể chế bậc cao của hệ thống ngân hàng thương mại và là nơi cho vay cuối cùng của các ngân hàng thương mại.
- Là một bộ máy của nhà nước, thực hiện việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng. - Là cơ quan quản lý kinh tế tài chính tổng hợp, là trung tâm tiền tệ, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của toàn bộ nền kinh tế. Mục tiêu, chức năng và công cụ của NHTW Mục tiêu của NHTW Là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ, NHTW cũng có 5 mục tiêu chính như các mục tiêu chính của CSTT bao gồm: (1) Ổn định giá cả. (2) Ổn định tỷ giá.
(3) Ổn định hệ thống tài chính. (4) Tăng trưởng kinh tế. (5) Tỷ lệ việc làm cao. Tuy nhiên, có nhiều lý do khiến một NHTW không thể cùng lúc theo đuổi tất cả các mục tiêu trên, như vì: - Một số mục tiêu là không tương thích với nhau.
Ví dụ như trong trường hợp “bộ ba bất khả thi”, cụ thể một quốc gia không thể cùng lúc đạt được cả ba mục tiêu tự do hóa tài chính – Chính sách tiền tệ độc lập – Tỷ giá ổn định. - Việc theo đuổi nhiều mục tiêu cùng lúc trong một số trường hợp còn có thể là không cần thiết. Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế và việc làm có tương quan chặt chẽ với nhau, nghĩa là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ tạo ra được nhiều việc làm mới, nên NHTW không cần phải theo đuổi cả hai mục tiêu trên. 7 - Đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu còn có thể làm hạn chế hiệu quả của chính sách.
Hiện nay, trước tình hình kinh tế trong và ngoài nước, các biến vĩ mô ngày càng biến động linh hoạt hơn. Do đó việc theo đuổi nhiều mục tiêu có thể khiến cho hiệu quả về mặt chính sách bị sụt giảm. Do những lý do này, các NHTW phải rất thận trọng trong việc lựa chọn mục tiêu cũng như thứ tự ưu tiên của chúng. Chức năng của NHTW - Quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng - Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ.
- Thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng. - Thực hiện chức năng ngân hàng của Chính phủ.