Mở đầu - Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động cho vay hộ sản xuất nông nghiệp tại các ngân hàng thương mại - Phần 3. Phương pháp nghiên cứu - Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần 5.
Kết luận và khuyến nghị 8 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Một số khái niệm có liên quan 2. Ngân hàng thương mại Căn cứ theo Khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Ngân hàng Thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hộ sản xuất nông nghiệp Theo Phụ lục của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 499A/TDNH ngày 02/09/1992 thì khái niệm hộ sản xuất được nêu như sau: “Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình”.
Theo Nguyễn Thị Thu Hằng (2012), bài viết “Bàn về tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam hiện nay” được đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 4 tháng 2/2012, nêu rõ: “Hộ sản xuất nông nghiệp” là một thuật ngữ được dùng trong các hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung cho cả hộ. Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế và khả năng phát triển của từng vùng, thì khái niệm hộ sản xuất nông nghiệp được nêu như sau: Hộ sản xuất nông nghiệp là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất nông nghiệp, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình”. Hộ SXNN là một lực lượng to lớn trong nền kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông thôn. Hộ SXNN hoạt động sản xuất 9 kinh doanh phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, lao động chủ yếu là thủ công mang tính thời vụ nên thường xuyên cần vốn cho sản xuất.
Hộ SXNN có thể tiến hành sản xuất kinh doanh đa dạng, vừa trồng trọt vừa chăn nuôi và làm nghề phụ. Hộ SXNN giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chiến lược kinh tế - xã hội ở nước ta. Sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội: Hộ SXNN góp phần giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập ở nông thôn; Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên ở nông thôn; Có khả năng thích ứng với kinh tế thị trường, thúc đẩy hàng hóa phát triển. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013), Giáo trình Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội có nêu: Đối với ngân hàng truyền thống, khái niệm cho vay được hiểu đồng nhất với khái niệm tín dụng.
“Cho vay là việc ngân hàng chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật, từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi đến thời hạn của khoảng thời gian trên, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm về giá trị được gọi là phần lời hay phần lợi tức. Đây chính là cái giá mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu để được quyền sử dụng một lượng tiền tệ hay hiện vật nhất định”. Như vậy, có thể hiểu: Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là một hoạt động cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiển để sử dụng vào mục đích với thời than nhất định theo thỏa thuận giữa ngân hàng vả khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay hộ sản xuất nông nghiệp Cho vay hộ SXNN chính là việc ngân hàng cung ứng vốn cho hộ SXNN để đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đây là quan hệ giữa một bên là ngân hàng và một bên là hộ SXNN, trong đó ngân hàng là chủ thể cho vay, các hộ SXNN là chủ thể đi vay vốn. Quản lý hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Theo tác giả Quang Minh (2012), “Quản lý hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là hoạt động thực hiện các nghiệp vụ quản lý, kiểm tra và giám sát việc vận dụng các chính sách, quy định của tổ chức tín dụng, pháp luật của nhà nước về hoạt động cho vay, đảm bảo hoạt động cho vay tuân thủ các quy định và hạn chế mức thấp nhất những rủi ro trong hoạt động này”. Từ các phân tích trên, có thể hiểu: Quản lý hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là hoạt động quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động cho vay dựa trên pháp luật nhà nước, các quy định, quy chế, chính sách của tổ chức tín dụng để giảm thiểu rui ro đến mức thấp nhất có thể xảy ra với hoạt động cho vay của ngân hàng.
Vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với hộ sản xuất nông nghiệp 2. Đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất nông nghiệp để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định thường có hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn tạm thời. Với chức năng của mình, ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư cho mọi hoạt động SXKD của các thành phần kinh tế trong đó có hộ SXNN để bảo đảm cho quá trình sản xuất được liên tục. Với đặc trưng SXKD của hộ SXNN cùng với sự chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ SXNN khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí của chu kỳ sản xuất tiếp theo, mua sắm đổi mới trang thiết bị và nhiều khoản chi phí khác.
Trong những lúc này các hộ SXNN cần có sự trợ giúp của tín dụng ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ SXNN có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ 11 chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người. Như vậy TDNH có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ SXNN, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển.
Nhu cầu vay vốn sản xuất là cần thiết rất lớn. Khu vực nông thôn đã, đang và vẫn là một thị trường rộng lớn của ngân hàng. Chính vì vậy tiềm năng tăng thị phần của hộ SXNN trong tổng dư nợ của Agribank rất lớn. Góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn và tập trung sản xuất trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp sản xuất hàng hóa Trong cơ chế thị trường đòi hỏi người sản xuất phải nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Muốn vậy phải không ngừng mở rộng quy mô SXKD, cải tiến trang thiết bị, áp dụng KHCN mới vào sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý. Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, thường vượt quá khả năng của các hộ SXNN do đó họ cần đến sự hỗ trợ về vốn của ngân hàng. Nhờ vốn TDNH, các hộ SXNN có đủ vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng lợi nhuận, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời thúc đẩy quá trình tích tụ vốn, tăng quy mô vốn tự có, tăng sức mạnh trong cạnh tranh. TDNH thúc đẩy nền nông nghiệp tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá.
Sản suất hàng hoá là tất yếu khách quan, là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế ở tất cả các nước, nhất là ở các nước có nền kinh tế lạc hậu, mang tính tự cấp tự túc như nước ta. Đồng thời nông nghiệp nông thôn nước ta đang giữ vị trí là một khu vực sản xuất vật chất rất lớn vì thế nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn là rất lớn mà điều đó chỉ có khối lượng vốn ngân hàng mới có khả năng đáp ứng được. Cho vay TDNH đáp ứng bổ sung phần vốn thiếu cho người sản xuất nông nghiệp để họ có điều kiện thâm canh tăng năng suất cây trồng, phát triển chăn nuôi và mở mang ngành nghề cũng như tăng cường mua sắm những trang thiết bị, máy móc, chi phí cho việc mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn. 12 Vốn đầu tư của ngân hàng với mức lãi suất hợp lý được cung ứng thường xuyên cho nhu cầu của người sản xuất nông nghiệp là điều kiện và động lực thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nền sản xuất hàng hoá như : Quy mô sản xuất ngày càng rộng, năng suất ngày càng cao tức là sản lượng tăng và tỷ trọng hàng hoá nhiều lên sẽ làm nhanh quá trình tích tụ, tập trung vốn trở lại là điều kiện cho phát triển mở rộng quy mô sản xuất.
Quá trình đó đưa đến một kết quả tất yếu là sản lượng hàng hoá nông sản ngày càng tăng, đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và những mặt hàng có giá trị xuất khẩu. Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, ngân hàng phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ SXNN vay. Vì vậy ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ SXNN sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông.