phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo chuẩn nghề nghiệp. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo chuẩn nghề nghiệp. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước Con người được trang bị bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển KT-XH. Do vậy, GD&ĐT giữ vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế. Mọi quốc gia trên thế giới đều coi giáo dục là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển KT-XH, sự hưng thịnh của đất nước.
Bởi lẽ, một nền giáo dục tốt, hiện đại sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế của một quốc gia. Ở Philippines, công tác nâng cao chất lượng ĐNGV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục học; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục; Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo. Tại Thái Lan, từ năm 1998, việc bồi dưỡng GV tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
Tại Triều Tiên, một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV. Tất cả GV đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình về nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Nhà nước đã ban hành “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng ĐNGV được thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa GV đi tập huấn ở nước ngoài. Nhật Bản là một nước có nền kinh tế phát triển và đội ngũ tri thức đông đảo nhất thế giới.
Nền giáo dục từ thời kỳ Minh Trị Thiên Hoàng đến nay đã thể hiện rõ đặc trưng cơ bản và thực sự nhất quán chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống của ĐNGV. Mặc dù Nhật Bản vốn phải chịu ảnh hưởng của lễ giáo Phương Đông, nhưng với truyền thống tôn sư trọng đạo, ĐNGV được 6 quan tâm ưu đãi về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ. Chính vì vậy, Nhật Bản luôn có ĐNGV đủ sức thực hiện tốt chủ trương và chính sách phát triển giáo dục của Nhật Bản kể cả xưa và nay. Việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, CBQL giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy theo thực tế của đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là, mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 GV được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Về chuẩn nghề nghiệp GV tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới, vấn đề chuẩn nghề nghiệp của GV rất được quan tâm. Đây là nội dung mà các trường sư phạm phải tập trung đào tạo và mỗi GV phải phấn đấu hoàn thiện.
Chuẩn nghề nghiệp GV tại các bang của Mỹ được xây dựng nhằm mục đích làm cho GV nâng cao kiến thức của nội dung môn học; cải thiện sự hiểu biết về học thuật, xã hội, tinh thần và vật chất bảo đảm GV tận dụng được các kĩ năng dạy học để giúp học sinh đạt được và vượt qua; phản ánh đầy đủ và sáng tỏ những kiến thức cần thiết có liên quan về những bài học và kinh nghiệm nghề nghiệp, tạo đồng thuận về chính kiến nghề nghiệp, dạy học và lãnh đạo; khuyến khích GV phát triển sự đa dạng của lớp học nhờ các kĩ năng đánh giá; cung cấp những bài học mới có tính tích hợp vào trong chương trình và trong lớp học; trang bị cho học sinh đủ kiến thức để học tập và phát triển; đánh giá định kì để tạo ra tác động đối với hoạt động dạy và học; GV cần phải nắm được, tận dụng và hỗ trợ phát triển các mối quan hệ cộng đồng rõ ràng, gắn bó, có kế hoạch; phát triển văn hóa trường học để giúp cho việc thực hiện liên tục, xử lí các thách thức về vai trò và các quan hệ truyền thống trong giáo dục; có kế hoạch phát triển nghề nghiệp bao gồm cả sự xem xét về trí tuệ và tài chính; bố trí đủ thời gian trong số các giờ làm việc để thu hút sự tham vấn ý kiến của người học nhằm hỗ trợ cho sự phát triển nghề nghiệp; làm việc có hiệu quả với cha mẹ học sinh và cộng sự. Giáo viên của Đức phải đạt được 10 năng lực nghề nghiệp thuộc 4 nhóm: - Năng lực dạy học (xây dựng kế hoạch bài học, hỗ trợ việc học của học sinh…). - Năng lực giáo dục - nghĩa hẹp (hiểu được các điều kiện sống của học sinh, truyền đạt các giá trị và chuẩn mực…). 7 - Năng lực đánh giá.
- Năng lực đổi mới. Quy định về tiêu chuẩn nghề nghiệp GV của Anh rất cụ thể, đó là: Thiết lập những kinh nghiệm học tập linh động và sáng tạo cho các cá nhân và các nhóm; đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ, khả năng đọc viết và toán; xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính thử thách về mặt trí tuệ; xây dựng những kinh nghiệm học tập phù hợp, có mối liên kết với thế giới bên ngoài trường học; xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính tổng quát; kết hợp công nghệ thông tin và liên lạc để tăng hiệu quả việc học tập của học sinh; đánh giá và báo cáo việc học tập của học sinh; hỗ trợ việc phát triển và tham gia xã hội của thanh niên; tạo ra môi trường học tập an toàn và mang tính hỗ trợ; xây dựng những mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn; đóng góp vào những nhóm nghề; tham gia thực hiện những hoạt động của nghề giáo. Ở các nước như: Anh, Bỉ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Chuẩn nghề nghiệp đã được Bộ GD&ĐT công bố để các cơ quan quản lý căn cứ vào đó để xây dựng chương trình đào tạo, các trường học và các GV căn cứ vào đó đưa ra chương trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Nhà giáo và CBQL giáo dục là nhân tố quyết định không chỉ với chất lượng giáo dục trong nhà trường mà còn ảnh hưởng quan trọng đến năng lực, phẩm chất trong cả cuộc đời mỗi con người.
Để hoàn thành sứ mệnh đặc biệt đó thì nhà giáo phải có chuyên môn, nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức tốt. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, trước những yêu cầu cao của xã hội đối với giáo dục, vai trò của người GV càng được tôn vinh. Báo cáo của uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đã khẳng định vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa, đoàn kết, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, sống trong hoà bình, bao dung. Tất cả phụ thuộc rất nhiều vào việc ĐNGV phải rèn luyện được ở thế hệ trẻ một trí tuệ nghiêm túc, tình cảm sâu sắc, thông cảm lẫn nhau cùng với tính độc lập ngày càng cao.
Kể từ sau cách mạng tháng Tám thành công và các cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới” nhiều công trình 8 nghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng và phát triển đội ngũ như tác giả: Trần Bá Hoành (2006), Chất lượng giáo viên [28] - đã đưa cách tiếp cận chất lượng GV dựa trên nhiều góc độ khác nhau như đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng ĐNGV, đồng thời tác giả cũng giới thiệu các thành tố tạo nên chất lượng GV bao gồm phẩm chất và năng lực người GV và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), “GV chất lượng cao trong thời đại ngày nay” - cho rằng, GV chất lượng cao là những GV có trình độ học thuật vững vàng, đủ sâu sắc và có tính phát triển thuộc chuyên ngành khoa học - kỹ thuật - công nghệ, được đào tạo có kiến thức và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có năng lực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn và khoa học, có khả năng hành nghề sư phạm đạt kết quả, có thể đảm đương được các vai trò mới trong một môi trường sư phạm đang biến đổi. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (GVMN) như: Trần Kiều và Lê Đức Phúc (2001), “Cơ sở khoa học để xác định chuẩn cho trường mầm non nông thôn trong công các chỉ đạo” [31] - đã đưa ra được những vấn đề cơ bản như xác định khái niệm, thống nhất hệ thống chuẩn mực trong chỉ đạo thực hiện trên cơ sở đưa ra mục tiêu giáo dục, chuẩn và “vùng phát triển gần nhất của trẻ mầm non”, mối quan hệ giữa chuẩn và điều kiện giáo dục, quan điểm hành động trong chỉ đạo; Hồ Lam Hồng (2008), “Chuẩn nghề nghiệp GVMN và quy trình xây dựng chuẩn nghề nghiệp” [14] - đã đưa ra quan niệm về chuẩn nghề nghiệp GVMN, cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng chuẩn nghề nghiệp GVMN,… Đối với GD&ĐT, việc phát triển ĐNGV là rất cần thiết.