Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên phổ thông Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên (GV) được rất nhiều quốc gia trên thế giới coi là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục và đào tạo. Năm 1998, hội nghị UNESCO về tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định: “Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục” [33].
Do đó, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là một trong những nội dung cơ bản trong cuộc cách mạng cải cách giáo dục. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sau khi được đào tạo tại các trường chuyên nghiệp, GV cần được tiếp tục bồi dưỡng chuyên môn trong quá trình công tác tại các trường học. Có một số công trình tiêu biểu thể hiện quan điểm này như: Tác giả N.Bondurep với công trình “Hệ phương pháp hoạt động giáo dục trong trường phổ thông” và Jacques Nimier với công trình “Giáo viên rèn luyện tâm lý” đã khẳng định GV không được đào tạo ở các trường sư phạm đã đủ mà sau này GV phải luôn tự rèn luyện tâm lý của mình [4].N trong nghiên cứu “Sự hình thành năng lực nghề nghiệp của GV trong bồi dưỡng nâng cao trình độ” đã đề cập đến những vấn đề trọng tâm như năng lực được đào tạo, năng lực nghề nghiệp, năng lực xã hội, năng lực nền tảng của nhân cách, các năng lực nghề nghiệp của GV dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu của các quốc gia như Nga, Mỹ…”[16]. Tác giả Omar & Khuan trong nghiên cứu về quan điểm phát triển năng lực cho đội ngũ GV đã cho rằng kiến thức và kỹ năng của GV có thể có được qua kinh nghiệm giảng dạy, tuy nhiên nếu GV không được đào tạo bồi dưỡng 6 liên tục họ sẽ không thể tạo ra những hóc sinh sáng tạo, có tư duy phản biện và đổi mới mặc dù có những thay đổi đã được thực hiện cho chương trình giảng dạy để phù hợp với sự đổi mới [32].
Tại Đông Nam Á, việc bồi dưỡng giáo viên cũng được tiến hành tại các quốc gia như tại Thái Lan có trung tâm học tập công động dành cho bồi dưỡng GV, hay ở Philipin tổ chức các khóa học bồi dưỡng GV vào thời gian nghỉ hè. Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm, bởi giáo viên là nghề được xã hội tôn vinh, được hưởng mức lương cao hơn công chức 30%. Ở Hàn Quốc, việc bồi dưỡng GV nhằm trang bị cho GV lý luận và phương pháp luận để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp học. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho các đối tượng như: cán bộ quản lý, giáo viện, cán bộ thư viện [16] [28].
Tại Việt Nam, hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cũng đã được quan tâm chú trọng. Điều này thể hiện ở đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV và CBQL giáo dục là khâu then chốt”. Hay trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 cũng đã làm rõ: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” [26].
Luật giáo dục (2019) cũng ghi rõ: “Nhà nước có chính sách đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho nhà giáo, nhà giáo được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ” [23]. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa hiện nay đòi hỏi phải có đội ngũ GV có năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, có kỹ năng và phương pháp dạy học hiện đại đáp ứng nhu cầu thực tế. Vấn đề này được đề cập ở một số công trình nghiên cứu, cụ thể: 7 Tác giả Nguyễn Thị Bình (2013) trong đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các biện pháp cải cách công tác đào tạo bồi dưỡng GV phổ thông” đã trình bày thực trạng hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV trong đó làm rõ mục tiêu, hình thức và nội dung bồi dưỡng đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế của vấn đề này. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những biện pháp để đổi mới hình thức và nội dung đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV phổ thông [2].
Đinh Xuân Khoa, Phạm Mạnh Hùng (2015) trong bài viết “Đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng giáo viên trong giai đoạn hiện nay” đã khẳng định sự cần thiết phải đổi mới nội dung, phương pháp bồi dưỡng giáo viên, đồng thời các tác giả cũng đề xuất 6 chuyên đề đổi mới nội dung bồi dưỡng, đổi mới cách thức, phương pháp bồi dưỡng GV cũng như xác định mối quan hệ giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong hoạt động bồi dưỡng GV. Tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung (2017) với bài viết “Đổi mới hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho GV tiểu học” đã khẳng định GV giữ vai trò quyết định trong giáo dục. Đội ngũ GV tiểu học mặc dù có tỷ lệ đạt chuẩn tương đối cao, tuy nhiên so với yêu cầu của chương trình GDPT 2018 thì chất lượng đội ngũ GV tiểu học còn nhiều hạn chế [21]. Tác giả Trần Thanh Nghị (2018) với công trình nghiên cứu: “Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở ở thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” phân tích thực trạng năng lực dạy học của GV THCS và thực trạng bổi dưỡng năng lực dạy học cho GV THCS ở thị xã Phú Thọ theo định hướng đổi mới chương trình GDPT.
Từ đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở [20]. Đậu Thị Mỹ Long và Đinh Hồng Vân (2019) trong nghiên cứu “Thực trạng phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” đã cho thấy CBQL và GV các trường tiểu học ở TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã nhận thức được tầm quan trọng của phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học đồng thời qua khảo sát thực tế tại các nhà trường đã chú trọng đến hoạt động bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp cho GV với các hình thức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên cũng còn một số hạn chế như nội 8 dung năng lực ngoại ngữ và công nghệ thông tin chưa được đánh giá cao, mức độ thường xuyên của các nội dung “tư vấn và hỗ trợ HS”, “Sử dụng ngoại ngữ” còn ít, tính chủ động của GV trong phát triển nghề nghiệp chưa cao [17]. Gần đây, Bộ GD&ĐT đã tổ chức tọa đàm về “Bồi dưỡng GV và cán bộ quản lý cơ sở GDPT nhằm thực hiện chương trình GDPT 2018” [34].
Theo đó, điểm mới của bồi dưỡng giáo viên đó là chuyển từ hoạt động bồi dưỡng sang hoạt động tự bồi dưỡng, giáo viên đại trà trên cả nước sẽ tự bồi dưỡng trên hệ thống bồi dưỡng trực tuyến (LMS) với hỗ trợ của đội ngũ cốt cán và giảng viên sư phạm chủ chốt. Sau khi hoàn thành các khóa tự bồi dưỡng qua mạng (E-course), các giáo viên được Sở GD-ĐT, Phòng GD tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn tại trường/cụm trường với sự chủ trì, tư vấn về chuyên môn của đội ngũ cốt cán theo môn học và sự hỗ trợ của giảng viên sư phạm chủ chốt. Như vậy, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên luôn được trong và ngoài nước quan tâm. Trong thời đại CNTT ngày càng phát triển, nguồn tài liệu trên Internet vô cùng da dạng và phong phú, GV cần tự rèn luyện cho mình năng lực tự học để có thể lựa chọn những thông tin bổ ích, thiết thực hỗ trợ quá trình hành nghề của mình.
Nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên phổ thông Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVPT được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, có thể liệt kê một số công trình như sau: Tác giả Nguyễn Tiến Phúc trong nghiên cứu “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp ở một số tỉnh vùng Tây Bắc” đã khái quát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT ở một số tỉnh vùng Tây Bắc theo chuẩn nghề nghiệp đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT ở một số tỉnh Tây Bắc [22]. Tác giả Trần Văn Tuấn với công trình nghiên cứu:“Quản lý hoạt động 9 bồi dưỡng GV THPT ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học”, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Năm theo chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực, trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất sáu biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT đáp ứng chuẩn nghề nghiệp [29]. Tác giả Nguyễn Văn Toàn trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT khu vực Đông Nam Bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục” đã làm rõ hệ thống khái niệm, xây dựng khung lý luận cần thiết cho nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục đồng thời phân tích thực trạng hoạt động bồi dưỡng GV, quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT ở khu vực Đông Nam Bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam từ đó chỉ ra những thành công, hạn chế, xác định nguyên nhân, từ đó tác giả đã đề xuất 5 giải pháp đồng thời đã tổ chức thử nghiệm giải pháp đã đề xuất đồng thời khẳng định các giải pháp này là hoàn toàn có hiệu quả, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi [27].