CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non Đội ngũ GV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông như hiện nay, thì mỗi GV cần phải thường xuyên được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để không ngừng cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực nghề nghiệp, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội và nâng cao chất lượng giáo dục.
Vì vậy vấn đề bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GV đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực chuyên môn và các vấn đề phát triển chuyên môn cho GV cũng như các biện pháp quản lý mà lãnh đạo trường học đã tiến hành để phát triển năng lực chuyên môn cho GV. Trong lĩnh vực xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV, nhà giáo dục học V. Xukhômlinxki đã từng yêu cầu: “Phải bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau” (Xukhômlinxki, 1981).
Tác giả này cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ GV. Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. 11 Japan (1986) nêu rõ tại đất nước này, việc bồi dưỡng và đào tạo là nhiệm vụ bắt buộc đối với đội ngũ GV và CBQL giáo dục. Tùy vào điều kiện thực tế của nhà trường và lực lượng tham gia mà nhà quản lý sẽ đề ra cách thức, phương pháp bồi dưỡng khác nhau.
GV là lực lượng nồng cốt góp phần phát triển chất lượng giáo dục thông qua sự nỗ lực cá nhân và quá trình quản lý. Hành vi biểu hiện của GV. Khoa học Tâm lý và Giáo dục. Tác giả đã chỉ ra sự bất đồng về quan điểm “ổn định cảm xúc của GV”.
Tác giả coi đó như một tài sản của tâm hồn, nhờ đó GV có thể thực hiện thành công các hoạt động cần thiết. Một GV thường xuyên hợp tác với trẻ, ngoài sự ổn định về cảm xúc, cần có sự nhạy cảm, nhạy bén, khả năng vận động và tính nghệ thuật. Tác giả đề cập chính những đặc điểm này đã được bao hàm trong khái niệm “tính biểu cảm của GV”. Viết về năng lực chuyên môn của GV tác giả Liakopoulou (2011) đã đưa ra khái niệm năng lực chuyên môn và phân loại “Năng lực chuyên môn của GV” bao gồm các thành tố sau đây: 1) Tính cách, thái độ và niềm tin; 2) Kỹ năng sư phạm và kiến thức sư phạm (Kiến thức môn học, Kiến thức và hiểu biết về người học, phương pháp giảng dạy, Kiến thức về chương trình giảng dạy); 3) Hiểu biết về bối cảnh xã hội; 4) Hiểu biết về bản thân và về khoa học nói chung.
Qua đó, tác giả cũng đã liệt kê những thành tố tạo thành cấu trúc năng lực chuyên môn của GV, theo thời gian sự pháp triển đổi mới không ngừng của giáo dục, vì vậy, việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ GV góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, là việc làm cần thiết hơn bao giờ hết. Dự án Việt - Bỉ (hỗ trợ học từ xa), tác giả Michei Develay trong cuốn “Một số vấn đề về đào tạo GV” đã nhấn mạnh việc đào tạo GV bao gồm 12 nhiều vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp…”(Michei Develay, 2011). Qua đó, tác giả đã bổ sung, làm phong phú thêm vào một số vấn đề lý luận về hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV. Tác giả Fiedeich Wiliam Taylor (1856-1915); Henri Fayol (1841-1925) và Max Weber (1864-1920) chia sẻ quan điểm: Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy của xã hội.
Trong bất cứ lĩnh vực nào của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò trong việc điều hành và phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, quản lý là nhân tố giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục. Các tác giả cũng đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của quản lý, là mấu chốt thực hiện các chức năng quản lý, dự vào đó góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục. Hai tác giả Gabršček, Roeders chỉ ra tầm quan trọng của việc lấy ý kiến phản hồi của GV về chương trình bồi dưỡng, hình thức và phương pháp bồi dưỡng và cho rằng cần phải tiến hành các đánh giá này một cách có hệ thống (Gabršček, S.
Dutto, Gabršček, Roeders đều cho rằng nhiệm vụ của các nhà quản lý giáo dục là phải tìm ra các giải pháp BDGV có hiệu quả, tìm ra các sáng kiến mới và giải pháp mới. Bản thân họ cũng phải nâng cao kĩ năng quản lý để quản lý và tổ chức tốt quá trình bồi dưỡng (Dutto, M. Các tác giả cũng đã chỉ ra trong quá trình bồi dưỡng rất cần thiết việc lấy ý kiến phản hồi từ đội ngũ được tham gia quá trình bồi dưỡng, từ đó, phân tích sự cần thiết, mức độ phù hợp về các nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng, là kênh thông tin để làm căn cứ để có những thay đổi trong kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, phù hợp với những yêu cầu mới đã và đang đặt ra cho giáo dục. Nghiên cứu của nhóm các tác giả Ge, D.(2021), nghiên cứu về đề tài “A teaching quality evaluation model for preschool teachers based on deep learning”.
Trong bài nghiên cứu này để xem xét tầm 13 quan trọng của chất lượng giảng dạy của GVMN đối với thành tích học tập suốt đời. Muốn đạt được điều đó thì GV không ngừng học tập và tự bồi dưỡng cá nhân. Nhóm tác giả đã thiết kế một mô hình đánh giá chất lượng giảng dạy cho GV mầm non dựa trên phương pháp học sâu. Thứ nhất, một hệ thống tiến bộ với cấu trúc phân cấp đã được phát triển cho các chỉ số đánh giá liên quan.
Sau đó, đánh giá mờ nhạt một cách toàn diện từng lớp chỉ số và tiêu chí đánh giá được xác định bằng nguyên tắc tổng hợp. Cuối cùng, một mô hình dự đoán đánh giá đã được thiết lập dựa trên thuật toán tăng cường độ dốc cực độ (XGBoost) và dịch vụ công nghệ 'ResNet (TS-ResNet), và đã chứng minh hiệu quả và độ chính xác thông qua các thử nghiệm. Như vậy, thông qua các nghiên cứu đã đề cập và phân tích trên, chung quy lại thì các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cần thiết lập qui trình bồi dưỡng GV pháp bồi dưỡng: bắt đầu từ đánh giá nhu cầu, phân loại GV, xác định nội dung, phương, lên kế hoạch, tổ chức và đánh giá kết quả bồi dưỡng. Tóm lại, để quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả các nhà quản lý giáo dục cần: (1) Hiểu được bản chất của công tác BDCM cho GV và các yêu cầu của công tác này, đặc biệt là các yêu cầu phát triển GV trong thế kỉ 21.
(2) Thiết lập được qui trình bồi dưỡng từ đánh giá nhu cầu đến xây dựng chương trình, tổ chức và đánh giá ảnh hưởng của công tác bồi dưỡng. (3) Vận dụng các chức năng quản lý trong quá trình bồi dưỡng: lập kế hoạch dài hạn từ cấp trung ương đến địa phương, các trường học và cá nhân các GV; từ kế hoạch dài hạn, cụ thể hóa thành kế hoạch bồi dưỡng hàng năm; tổ chức đa dạng các loại hình bồi dưỡng, chú trọng các hình thức, nội dung bồi dưỡng của thế kỉ 21; thực hiện bồi dưỡng theo nhu cầu và có đánh giá hiệu quả bồi dưỡng bằng các hình thức khác nhau đối với GV, với chương trình bồi dưỡng, tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu để cải tiến công tác bồi dưỡng. 14 (4) Xác định nguồn kinh phí cho công tác bồi dưỡng, da dạng hóa nguồn kinh phí và chính phủ trung ương vẫn là người đóng vai trò chính cung cấp kinh phí cho công tác bồi dưỡng. (5) Sử dụng công nghệ để tiện ích hóa việc phát triển chuyên môn cho GV, đặc biệt là cung cấp các chương trình truyền hình vệ tinh, các video dạy học thực tiễn, cho GV thực hành các kĩ năng dạy học.
(6) Đối với GV các vùng hẻo lánh cần thiết lập các mạng lưới GV, các hiệp hội phát triển nghề nghiệp GV và các hình thức tư vấn đồng nghiệp, các chương trình truyền hình và video clip. (7) Bồi dưỡng GV cần vận dụng các đặc điểm học tập của người lớn, chú ý các hoạt động thực hành và hình thành hoặc rèn luyện các kĩ năng dạy học cho họ., (1997) nhấn mạnh các hình thức bồi dưỡng trực tuyến và kết hợp trực tuyến với trực tiếp. Mô hình kết hợp (Hybrid Training) được xem là mô hình hiệu quả nhất để giúp GV sử dụng tốt các công cụ dạy học của thế kỉ 21. Mô hình này bao gồm cả các phương pháp bồi dưỡng trực tiếp (tư vấn đồng nghiệp, hội thảo, xêmina…) và phương pháp bồi dưỡng trực tuyến (tư vấn bằng video, các tư liệu học tập điện tử, thảo luận trên diễn đàn, tương tác, thảo luận online, tư vấn điện thoại, xem các chương trình truyền hình…) để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của GV.
Hình thức này được cho là tiết kiệm chi phí cho các nhà trường, nhất là các chi phí cho việc đi lại, ăn ở…trong khi GV lại được hưởng chương trình bồi dưỡng tốt nhất do các chuyên gia thiết kế. (2013) đề cao việc bôì dưỡng GV thông qua hỗ trợ của đồng nghiệp, GV bồi dưỡng cho GV. Các hình thức bồi dưỡng khác cũng được đề cập là việc thiết lập các mạng lưới GV, các hiệp hội GV trực tuyến với sự hợp tác giữa GV với các chuyên gia giáo dục, với các nhà quản lý giáo dục. Hình thức này đặc biệt có lợi cho GV ở những vùng hẻo lánh, khó khăn.
Một hình thức bồi dưỡng mới là lôi kéo GV tham gia vào các dự án nghiên cứu cùng 15 với các giảng viên ở các trường đại học ở các lĩnh vực dạy học khác nhau.