Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non 1. Quản lý giáo dục mầm non 1. Quản lý a) Khái niệm về quản lý Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.
Ngay từ thuở bình minh của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người phải lao động chung, kết hợp thành tập thể; điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, tức là phải có quản lý. Theo Harold Koontz thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”.33] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”.176] Trong luận văn này tôi sử dụng khái niệm quản lý của tác giả Vũ Dũng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”.47] Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới 8 khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”.
Từ những khái niệm trên cho ta thấy, tuy về mặt cấu trúc khái niệm có khác nhau, song đều thể hiện những điều chung đó là: - Có chủ thể quản lý: “Ai quản lý” đó là tác nhân tạo các tác động. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức. - Có chủ thể bị quản lý: “Quản lý ai”, “Quản lý cái gì” (hay còn gọi là đối tượng quản lý, khách thể quản lý). - Có mục tiêu quản lý: quản lý nhằm đạt được những kết quả gì? Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó.
Bản chất của quản lý là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý, là khoa học và nghệ thuật. Là khoa học vì quản lý đòi hỏi sử dụng các tri thức khoa học, là nghệ thuật vì nó đòi hỏi sự khôn khéo, linh hoạt và sáng tạo. b) Chức năng của quản lý Các chức năng của quản lý được coi là những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng của người quản lý. Gồm có 4 chức năng cơ bản đó là: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra, đánh giá.15] * Chức năng lập kế hoạch Đây là chức năng hoạch định là chức năng quan trọng nhất của quá trình quản lý.
Lập kế hoạch tức là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể để đạt được tới mục tiêu. Lập kế hoạch đòi hỏi nhà quản lý phải nắm chắc thông tin, làm tốt công tác dự báo cùng với sự tham gia dân chủ của các thành viên, bởi họ là những người làm cho kế hoạch được thực hiện. 9 Lập kế hoạch bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong thời gian nhất định của một hệ thống.16] * Chức năng tổ chức Chức năng tổ chức được tiến hành nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra. Tổ chức là sự hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận tổ chức.
Nếu tổ chức tốt, có hiệu quả thì người quản lý có thể phối hợp, điều hành tốt các nguồn lực, tạo ra sự vận hành đồng bộ trong bộ máy của tổ chức, tạo ra sức mạnh hợp đồng để phát triển tổ chức và đạt được các mục tiêu đề ra. Nội dung chủ yếu của chức năng tổ chức gồm: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận của tổ chức: Quản lý nhân sự (bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp, phân công, phân nhiệm, đề bạt, sa thải., tổ chức các hoạt động).16] * Chức năng chỉ đạo Sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu của bộ máy tổ chức đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng, sắp xếp thì phải có người lãnh đạo (Nhà quản lý) dẫn dắt và điều khiển. Đó là quá trình tập hợp và liên kết các thành viên trong tổ chức, giám sát các hoạt động của các thành viên, các bộ phận trong tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng không chồng chéo, xử lý những hành vi vi phạm, động viên khuyến khích người lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.17] * Chức năng kiểm tra, đánh giá Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý. Có thể chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý nhằm đánh giá phát hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ thống quản lý vận hành tối ưu, đạt được mục tiêu đề ra.
Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể 10 quản lý nhằm đánh giá kết quả vận hành của tổ chức. Thông qua kiểm tra người quản lý nắm được những vấn đề tồn tại, hạn chế, những thiếu sót, khuyết điểm, những trì trệ để có những biện pháp điều chỉnh, uốn nắn, khắc phục, đồng thời nắm được những ưu điểm để phát huy động viên, khuyến khích, hoàn thiện kế hoạch tổ chức và chỉ đạo. Trong công tác quản lý thì đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá thông tin. Các chức năng này có mối liên hệ ràng buộc, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Các chức năng quản lý không phải là cái "nhất thành nhất biến", trái lại nó luôn biến đổi cho phù hợp. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất. Trong lịch sử phát triển của xã hội, khoa học quản lý xã hội ra đời muộn hơn khoa học kinh tế do cách nhìn nhận giáo dục ở góc độ không đồng nhất nên dẫn đến những khái niệm về QLGD có nội dung rộng hẹp khác nhau. Có rất nhiều cách định nghĩa về QLGD của các tác giả trong và ngoài nước: Theo học giả nổi tiếng M.Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”.34 ] Tác giả Đặng Quốc Bảo lại cho rằng: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [3, tr 45].
Trên đây là những quan điểm khác nhau về QLGD, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau mỗi tác giả lại có cái nhìn khác nhau về QLGD. Mặc dù vậy, khi nghiên cứu kỹ về nó ta có thể nhận thấy trong các quan niệm khác nhau về QLGD ấy lại có những điểm tương đồng. Từ những khái niệm trên, có thể khái quát khái niệm QLGD như sau: 11 Quản lý giáo dục là tác động qua lại có hệ thống, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau cho đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em và hoàn thiện nhân cách chủ thể quản lý. Quản lý giáo dục mầm non, quản lý trường mầm non a) Quản lý giáo dục mầm non Quá trình quản lý tác động vào quá trình giáo dục trẻ tại các trường mầm non, tạo ra điều kiện thuận lợi cho các cơ sở GDMN thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch đào tạo nhằm góp phần nâng cao chất lượng CSGD trẻ trong các trường mầm non.
b) Quản lý trường mầm non Trường mầm non là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.8] Quản lý trường mầm non là khâu cơ bản của hệ thống quản lý ngành học. Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình CSGD trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu của bậc học. Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của các trường mầm non 1. Khái niệm bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật những kiến thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ GV để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của ngành học.
Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục cho mỗi GV, cấp học, ngành học, 12 không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế xã hội. Nội dung bồi dưỡng được triến khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể. [13] Bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN được xem là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp.
Việc làm này nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để GVMN có cơ hội củng cố, mở mang nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng sư phạm sẵn có, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục và dạy học.