Luận văn: Quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử Việt Nam

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay, đảm bảo tính chuẩn mực và hiệu quả truyền thông.

Chuyên ngành

Quản lý Báo chí và Truyền thông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

120
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng

Quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay là quá trình xây dựng, giám sát và tối ưu hóa hình ảnh của các lãnh đạo chính trị khi xuất hiện trên môi trường trực tuyến. Hình ảnh chính trị gia không chỉ phản ánh chân dung cá nhân mà còn thể hiện thông điệp chính trị, uy tín lãnh đạo và quan điểm của đảng cầm quyền. Tại Việt Nam, báo mạng điện tử đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến thông tin chính trị do tốc độ cập nhật nhanh và phạm vi tiếp cận rộng. Các cơ quan báo chí phải tuân thủ quy định của pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và chiến lược truyền thông của nhà nước khi sử dụng hình ảnh chính trị gia. Quản lý hiệu quả yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa phóng viên, biên tập viên và lãnh đạo tòa soạn để đảm bảo tính chính xác, thẩm mỹ và phù hợp với định hướng tuyên truyền.

1.1. Khái niệm hình ảnh chính trị gia trong báo mạng

Hình ảnh chính trị gia trong báo mạng bao gồm tất cả các dạng thức hình ảnh xuất hiện trên nền tảng trực tuyến, từ ảnh chân dung, hoạt động thực tế đến đồ họa minh họa. Ảnh chân dung chiếm tỷ lệ cao nhất (65%) trong khảo sát VnExpress, VietNamNet và VietNamPlus, thể hiện xu hướng cá nhân hóa lãnh đạo. Ảnh hoạt động tập thể và sự kiện chiếm 25%, phản ánh hoạt động tập thể của đảng và chính phủ. Ảnh đồ họa chỉ chiếm 10%, thường dùng để minh họa các khái niệm chính trị trừu tượng. Chất lượng hình ảnh cũng là yếu tố quan trọng, với 70% ảnh đạt chuẩn về ánh sáng và bố cục trong khảo sát.

1.2. Vai trò của báo mạng trong quản lý hình ảnh chính trị

Báo mạng điện tử đóng vai trò trung gian quan trọng giữa chính trị gia và công chúng, giúp lan tỏa thông điệp chính trị một cách nhanh chóng. Khác với báo in, báo mạng cho phép cập nhật hình ảnh theo thời gian thực, tạo cơ hội phản ứng tức thì trước các sự kiện chính trị. Các tòa soạn phải đảm bảo hình ảnh chính trị gia phù hợp với định hướng tuyên truyền, tránh những biểu hiện thiếu chuyên nghiệp. Báo mạng cũng là công cụ giám sát dư luận, phản ánh thái độ của xã hội đối với hình ảnh lãnh đạo thông qua bình luận và chia sẻ. Sự phối hợp giữa báo chí và cơ quan quản lý nhà nước là yếu tố then chốt để kiểm soát chất lượng nội dung.

II. Thực trạng quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng Việt Nam

Hiện nay, quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế do thiếu quy định thống nhất về chất lượng hình ảnh. Theo khảo sát từ tháng 6/2021 đến 5/2022, 40% hình ảnh chính trị gia trên ba trang VnExpress, VietNamNet và VietNamPlus có chất lượng chưa đạt chuẩn, chủ yếu do thiếu ánh sáng hoặc bố cục kém. Tỷ lệ ảnh chân dung chính trị gia xuất hiện cùng người khác là 35%, trong đó 20% có sự tương tác không phù hợp với bối cảnh chính trị. Ngoài ra, 15% hình ảnh bị vỡ nét hoặc nhiễu do xử lý kỹ thuật kém. Sự thiếu nhất quán trong phong cách trình bày giữa các tòa soạn cũng khiến hình ảnh lãnh đạo mất đi tính chuyên nghiệp. Các vấn đề này xuất phát từ thiếu đào tạo chuyên sâu cho phóng viên, biên tập viên về kỹ thuật nhiếp ảnh và quản lý hình ảnh.

2.1. Những tồn tại trong công tác quản lý hình ảnh

Một trong những tồn tại lớn nhất là thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hình ảnh chính trị gia. Nhiều tòa soạn không có bộ phận chuyên trách về quản lý hình ảnh, dẫn đến tình trạng phóng viên tự ý đăng tải ảnh mà không qua biên tập. 30% hình ảnh trong khảo sát không có chú thích rõ ràng về thời gian, địa điểm hoặc bối cảnh, gây khó khăn cho người xem trong việc đánh giá tính xác thực. Ngoài ra, việc lạm dụng hình ảnh chính trị gia trong các bài viết quảng cáo hoặc tuyên truyền thiếu minh bạch cũng làm giảm uy tín của báo chí. Sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong việc chia sẻ hình ảnh cũng dẫn đến tình trạng trùng lặp nội dung.

2.2. Ảnh hưởng của công nghệ và xu hướng truyền thông

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ deepfake đã đặt ra thách thức mới trong quản lý hình ảnh chính trị gia. Các công cụ chỉnh sửa ảnh tiên tiến có thể thay đổi diện mạo hoặc bối cảnh của hình ảnh, gây nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch. Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng mạng xã hội như Facebook, TikTok khiến hình ảnh chính trị gia dễ bị cắt ghép hoặc xuyên tạc. Các tòa soạn cần cập nhật công nghệ giám sát hình ảnh tự động để phát hiện và ngăn chặn những nội dung sai lệch. Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các báo mạng cũng thúc đẩy xu hướng đăng tải hình ảnh giật gân, gây ảnh hưởng đến uy tín của chính trị gia.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hình ảnh chính trị gia

Để nâng cao hiệu quả quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng, cần xây dựng hệ thống quy định chặt chẽ về chất lượng hình ảnh và quy trình biên tập. Các tòa soạn nên thành lập bộ phận chuyên trách về quản lý hình ảnh, bao gồm phóng viên, biên tập viên và chuyên gia nhiếp ảnh. Quy trình biên tập phải bao gồm kiểm tra chất lượng kỹ thuật, kiểm duyệt nội dung và đảm bảo phù hợp với định hướng tuyên truyền. Đào tạo thường xuyên cho phóng viên về kỹ thuật nhiếp ảnh, quản lý hình ảnh và pháp luật báo chí là giải pháp quan trọng. Sử dụng công nghệ AI để giám sát hình ảnh trước khi đăng tải cũng giúp phát hiện những sai sót nhanh chóng. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác giữa các cơ quan báo chí trong việc chia sẻ nguồn hình ảnh chất lượng.

3.1. Xây dựng quy định và quy trình quản lý hình ảnh

Các tòa soạn cần ban hành bộ quy định chi tiết về quản lý hình ảnh chính trị gia, bao gồm tiêu chuẩn kỹ thuật (độ phân giải, ánh sáng, bố cục) và nội dung (phù hợp với định hướng tuyên truyền). Quy trình biên tập phải yêu cầu phóng viên cung cấp đầy đủ thông tin về bối cảnh, thời gian và địa điểm khi đăng tải hình ảnh. Mỗi bài viết có sử dụng hình ảnh chính trị gia phải trải qua hai vòng kiểm duyệt: biên tập viên kiểm tra kỹ thuật và lãnh đạo tòa soạn kiểm tra nội dung. Các tòa soạn cũng nên xây dựng ngân hàng hình ảnh chất lượng để phục vụ nhu cầu đăng tải. Việc áp dụng hệ thống quản lý nội dung (CMS) tích hợp công cụ kiểm tra hình ảnh cũng giúp tối ưu hóa quy trình.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý hình ảnh

Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý hình ảnh. Các tòa soạn có thể sử dụng phần mềm giám sát hình ảnh tự động để phát hiện những sai sót về kỹ thuật như vỡ nét, nhiễu hoặc sai màu sắc. AI cũng có thể được ứng dụng để phân tích cảm xúc từ hình ảnh, đảm bảo thông điệp truyền tải phù hợp với định hướng chính trị. Ngoài ra, blockchain có thể được sử dụng để xác thực nguồn gốc hình ảnh, ngăn chặn tình trạng chỉnh sửa hoặc cắt ghép trái phép. Việc tích hợp các công cụ quản lý hình ảnh vào hệ thống CMS giúp tối ưu hóa quy trình đăng tải và kiểm duyệt.

IV. Kết luận và khuyến nghị về quản lý hình ảnh chính trị gia

Quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan báo chí, cơ quan quản lý nhà nước và công nghệ tiên tiến. Các tồn tại về chất lượng hình ảnh, thiếu quy định thống nhất và tác động của công nghệ đòi hỏi giải pháp toàn diện từ xây dựng quy định, đào tạo nhân lực đến ứng dụng công nghệ. Việc nâng cao nhận thức của phóng viên, biên tập viên về tầm quan trọng của hình ảnh chính trị gia là yếu tố then chốt. Các tòa soạn cần đầu tư vào hệ thống quản lý hình ảnh hiện đại và thường xuyên cập nhật quy trình biên tập. Chỉ khi đó, hình ảnh chính trị gia mới thực sự trở thành công cụ hiệu quả trong công tác tuyên truyền và xây dựng niềm tin của công chúng.

4.1. Tầm quan trọng của quản lý hình ảnh trong tuyên truyền

Hình ảnh chính trị gia là cầu nối quan trọng giữa lãnh đạo và nhân dân, giúp truyền tải thông điệp chính trị một cách trực quan và hiệu quả. Một hình ảnh chuyên nghiệp, phù hợp với định hướng tuyên truyền sẽ tăng cường uy tín của lãnh đạo và đảng cầm quyền. Ngược lại, hình ảnh kém chất lượng hoặc thiếu chuyên nghiệp sẽ gây tổn hại đến hình ảnh cá nhân và tổ chức. Tại Việt Nam, nơi mà truyền thống tôn trọng lãnh đạo vẫn còn sâu sắc, hình ảnh chính trị gia càng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin của nhân dân. Do đó, quản lý hình ảnh không chỉ là nhiệm vụ của báo chí mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.

4.2. Định hướng phát triển quản lý hình ảnh trong tương lai

Trong tương lai, quản lý hình ảnh chính trị gia sẽ ngày càng phụ thuộc vào công nghệ và xu hướng truyền thông mới. Các tòa soạn cần chuẩn bị sẵn sàng cho sự bùng nổ của truyền thông đa phương tiện, bao gồm video, đồ họa tương tác và thực tế ảo. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát và chỉnh sửa hình ảnh sẽ trở nên phổ biến, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải cập nhật liên tục. Ngoài ra, sự phát triển của mạng xã hội cũng đặt ra thách thức mới trong kiểm soát hình ảnh, đòi hỏi các tòa soạn phải xây dựng chiến lược quản lý đa kênh. Định hướng phát triển phải tập trung vào việc xây dựng hình ảnh lãnh đạo chuyên nghiệp, hiện đại và gần gũi với nhân dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử một số vấn đề lý luận Chương 2: Thực trạng quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử ở Việt Nam (khảo sát báo Vnexpress, VietNamNet, VietNamPlus). Chương này đưa ra thực trạng sử dụng hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử thông qua khảo sát thực tế các tờ báo; cũng như đánh giá yếu tố quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử, nêu lên thực trạng công tác quản lý hiện nay. Chương 3: Những vấn đề đặt ra, giải pháp, khuyến nghị về việc quản lý hình ảnh chính trị gia trên báo mạng điện tử. Chương này nêu và phân tích những vấn đề đặt ra trong quá trình quản lý, đồng thời đưa đến những giải pháp, kiến nghị cho các nhà báo, cơ quan báo chí, cơ quan quản lý báo chí trong quản lý, sản xuất, sáng tạo tác phẩm ảnh báo chí về chính trị gia trên báo mạng điện tử trong bối cảnh b ng nổ công nghệ số hiện nay.

11 Chƣơng 1: QUẢN LÝ HÌNH ẢNH CHÍNH TRỊ GIA TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. M t số khái niệm cơ bản về quản lý hình ảnh chính tr gia trên báo mạng iện tử 1. Quả ý Quản lý là hoạt động mang tính phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực và cấp độ, và có liên quan đến mọi cá nhân, tổ chức. Đây là một hoạt động xã hội được bắt nguồn từ tính chất cộng đồng.

Hình thành dựa trên sự phân công và hiệp tác giữa các cá nhân, bộ phận, tổ chức để thực hiện một công việc nhằm đạt những mục tiêu chung.Mác đã viết “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [2. Tr480] Thực tế hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận và nhiều định nghĩa, khái niệm về thuật ngữ “quản lý”. Trong cuốn Giáo trình Khoa học quản lý, Tập 2, nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, năm 2021 đề cập như sau: Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi, nhưng lại chưa có một định nghĩa thống nhất.

Có nghiên cứu cho rằng quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo cho sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có nhà nghiên cứu cho rằng quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm. Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi việc quản lý là sự có trách nhiệm với một cái gì đó. Từ những quan niệm chung về quản lý nêu trên, có thể định nghĩa: 12 Quản lý là sự tác động có tổ chức, có h ớng đích của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đ ra.

Trong định nghĩa trên cần chú ý một số điểm sau: Một là, quản lý bao giờ cũng có một tác động có hướng đích, có mục tiêu đã được xác định. Hai là, quản lý là sự thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận (hay phân hệ), thứ nhất là chủ thể quản lý (bao gồm cá nhân hay tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và thứ hai là đối tượng quản lý (gồm bộ phận chịu sự quản lý) đây được hiểu là quan hệ mệnh lệnh - phục t ng, không c ng cấp và có tính bắt buộc. Ba là, quản lý bao giờ cũng là quản lý con người. Đối tượng quản lý là con người.

Bốn là, mặc d quản lý là sự tác động mang tính chủ quan, nhưng yêu cầu phải ph hợp với quy luật khách quan. Năm là, quản lý nếu xét về khía cạnh công nghệ, thì đây là sự vận động của thông tin 1. Chính trị gia Chính trị là thuật ngữ được d ng rất thường xuyên và phổ biến trong đời sống xã hội. Nhưng đây cũng là một thuật ngữ khó định nghĩa nhất trong khoa học xã hội.

Bởi vì cho đến ngày nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể, chính xác nào được nhiều người thừa nhận. Chính trị có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ là “polis” được dịch ra từ tiếng Hán cổ có nghĩa là những công việc của các thành bang cổ thời xưa, tương đương với nhà nước ngày nay. Chữ “politics” (chính trị) của phương Tây có nguồn gốc từ thuật ngữ này d ng để chỉ những người dân tự do. Ngay từ thời cổ đại, Platon đã ví von một cách đời thường rằng: Chính trị là công việc chăn dắt các động vật hai cánh không có sừng và không có lông.

Đó là sự chăn dắt con người. Theo quan 13 điểm của chủ nghĩa Marx, khi nền kinh tế phát triển đạt đến một trình độ nhất định. Khi đó xã hội sẽ có sự phân chia thành giai cấp, sau đó dẫn đến mâu thuẫn giữa các giai cấp trở nên gay gắt và không thể điều hòa được. Lúc này nhà nước, chính trị ra đời.

Chính trị là tiến trình một nhóm người đưa ra những quyết định. Mặc d thuật ngữ này thường được d ng để ám chỉ hoạt động của các chính quyền ở cấp quốc gia, tuy nhiên trong thực tế chính trị cũng xuất hiện và tồn tại trong tất cả các nhóm người khác có tương tác với nhau như doanh nghiệp, trường học hay nhóm tôn giáo. [4, tr 10] Tiếp cận vấn đề từ chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể xem chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đ giành, giữ, sử dụng hoặc chi phối quy n lực nhà n ớc. [4, tr 14] Theo Triết gia Khổng Tử cho rằng: chỉ những người quân tử có đức sáng mới có thể cai trị thiên hạ tốt bằng chính tấm gương đạo đức và tình yêu thương dân chúng của mình.

Aristotle, triết gia của Hy Lạp cổ đại đề cập đến đức tính của nhà lãnh đạo: Công dân cũng cần phải có kiến thức và khả năng lãnh đạo cũng như biết tuân thục. Riêng đối với các nhà lãnh đạo, còn đòi hỏi phải có thêm một đức tính ngoài những đức tính mà mọi công dân đều có, đó là sự “khôn ngoan chính trị” [4, tr 12] Triết gia Hy Lạp cổ đại Platon: xã hội cần được điều hành bởi tầng lớp những người cầm quyền cũng là triết gia, những người được giáo dục tốt. Đó là những người được đào tạo một cách bài bản, đầy đủ và có những kỹ năng đặc biệt về quan sát tổng quan xã hội. Chính trị gia (“nhà chính trị”) hay “chính khách” thường được d ng với ý nghĩa tương đương: là người chuyên hoạt động chính trị, thường có tiếng tăm nhất định.

Trong tiếng anh, từ “politician” được d ng để chỉ những người hoạt động chính trị nói chung. 14 Việt Nam, “chính trị gia” được sử dụng đối với: Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, nhà nước; lãnh đạo cấp cao của Đảng, nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị; Các chức danh thuộc diện Ban Bí thư. Hình ảnh Từ thời xa xưa khi chưa có chữ viết, con người đã biết d ng lối vẽ làm phương tiện thông tin. Trong các hang động cổ có nhiều bức tranh động vật, họa tiết được khắc lên vách đá, nhằm mục đích thông báo cho nhau những điều cần biết.

Từ tranh khắc chuyển sang chữ viết là một quá trình trừu tượng hoá; sau dần người ta bắt đầu lược bỏ đi các chi tiết cụ thể, phức tạp, thay vào đó d ng các đường nét đơn giản hơn làm kí hiệu để ghi lại ngôn ngữ, mở rộng thông tin cho con người. C ng với chữ viết, tranh vẽ ra đời và dần dần được phổ biến. Điều này cũng thật dễ hiểu, bởi con người chúng ta cần thiết phải sử dụng các giác quan để tìm hiểu thực tại xung quanh và mở rộng vốn tri thức. Nhưng “trăm nghe không bằng một thấy”, ảnh đã ra đời để đáp ứng nhu cầu này.

Ngoài ra, còn chưa bằng lòng với những tấm ảnh bình thường, con người còn muốn những hình ảnh đó phải có sự sống động, ghi lại những hành động, sự việc, hiện tượng, sự kiện diễn ra một cách chân thực nhất. Hình ảnh đã bắt đầu ra đời từ đây. Nó đã đáp ứng một phần không nhỏ yêu cầu nhìn, quan sát của loài người. Từ đó, hình ảnh đã trở thành một loại hình ngôn ngữ - thường được gọi là ngôn ngữ hình ảnh.

Nó có khả năng thông tin một cách chính xác những nội dung có tính vật chất nhất định. Với khả năng thông tin bằng hình ảnh đã giúp mở rộng tầm nhìn con mắt của con người, nhờ vậy con người đã có thể hiểu mình đầy đủ hơn, chính xác hơn và sâu sắc hơn. Thuật ngữ “hình ảnh” (trong tiếng anh là image) có nguồn gốc từ Latin “imago” và có mối quan hệ mật thiết với một từ Latin khác là “imitari” - từ này d ng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo. 15 Theo từ điển Oxford (Oxford learner’s Dictionary) định nghĩa thuật ngữ “hình ảnh” chủ yếu dựa theo hai nhóm nghĩa.

Thứ nhất, đây là hình ảnh vật lý, bao gồm: một bức tranh, ảnh chụp hoặc bức tượng đại diện cho ai đó hoặc cái gì đó; hay ảnh của ai đó hoặc thứ gì đó được nhìn thấy trong gương, qua máy ảnh hoặc trên tivi, máy tính, điện thoại. Thứ hai, hình ảnh trong trí não bao gồm: ấn tượng mà một người, một tổ chức, một sản phẩm. mang lại cho công chúng; một bức tranh tinh thần mà bạn có về ai đó, cái gì đó giống hoặc trông như thế nào; một từ hoặc một cụm từ được sử dụng với ý nghĩa khác với ý nghĩa bình thường của nó, để mô tả điều gì đó theo cách tạo ra hình ảnh mạnh mẽ trong tâm trí. [22] Trong từ điển Tiếng việt từ hình ảnh được hiểu là “hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học [như máy ảnh], hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong tâm trí” [13.

Tr337] D ới góc độ tri t học, hình ảnh là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người. trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri thức và biểu tượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ