CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ý THỨC TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Kỹ năng sống được đề cập trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và GD của Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước.ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các ý thức của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các ý thức cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các ý thức đó. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có tác giả V.Crutexki có công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn (V.Kruteski, 1980) Một số nhà tâm lý học coi khả năng tự lập, tự phục vụ cho bản thân là một trong những nét đặc trưng của nhân cách, đại diện là T.Dmitriev…cho rằng: “Khả năng tự lập phải hình thành trên cơ sở người học đã có một số kiến thức, hiểu biết một số ý thức nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống khác nhau trong thực tế, đó phải là những tình huống mới mẻ mà các em phải đối mặt trong cuộc sống.
Khả năng tự lập của các em được bộc lộ rõ qua các hành vi và ta có thể dễ dàng quan sát thấy được trong khi các em đang thực hiện các mối quan hệ giữa người – người, hay giữa con người với thế giới xung quanh” E. Petrova xem xét trong hoạt động vui chơi thì khả năng tự lập của trẻ phát triển như thế nào? Bà đã khẳng định: Chơi chính là một hoạt động thực tiễn mang khả năng tự lập của trẻ nhỏ. Tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc. Vì vậy, trong khi chơi xuất hiện ở trẻ sự tích cực tự nguyện.
Nhà GD có thể dựa vào hoạt động vui chơi mà có 9 kế hoạch GD khả năng tự lập của trẻ theo định hướng mục tiêu có chủ đích. Bản thân người lớn cũng thúc đẩy trẻ em hoạt động một cách tự lập, sau đó là phải học tập suy luận, tập nhận xét một cách nghiêm túc theo ý riêng của bản thân, có lập trường riêng của chính mình. Sự phát triển khả năng và sự cần thiết hoạt động một cách chủ động, tự lập của trẻ mẫu giáo phải ở mức độ nào là phù GD ý thức tự phục vụ cho HSTH là một trong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà GD quan tâm nghiên cứu. Mặc dù có khác nhau về các biện pháp, phương pháp khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đều cho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai mặt then chốt mà GD cần tác động đến nhằm tạo ra những con người toàn diện.
Rất nhiều tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề GD tự phục vụ cho các em trong cuộc sống, khả năng tự lập là một phẩm chất nhân cách vô cùng quan trọng. Nhờ vào khả năng tự lập mà các em có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực của bản thân các em. Theo tác giả Vengher nghiên cứu khả năng tự lập trên cơ sở tác động của nhà GD: Khả năng tự lập không phải tự nhiên mà có. Nó chỉ được tạo nên trong những điều kiện cần thiết cho việc hình thành khả năng tự lập dưới sự hướng dẫn của mọi người.
Tự lập là sự suy nghĩ, sự tổ chức hành động và hoạt động không dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài. Khả năng tự lập là một phẩm chất quan trọng của nhân cách.Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình đã chú trọng đến việc GD lao động tự phục vụ cho HS. Tác giả cho rằng: “Thói quen là bản tính thứ hai của con người. Khi có thói quen lao động, nếu không làm việc người ta không chịu được,…”.
Như vậy theo A.Côvaliôp một khi đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiện công việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì học sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực. Vì vậy, đối với HSTH một khi có ý thức tự phục vụ đã hình thành thì cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầu của các em, nếu không các em sẽ cảm thấy khó chịu. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng việc các em chủ động thực hiện các công việc tự phục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó là động lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ. Vì vậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc GD lao động tự phục vụ cho các em (A.Peecnicova trong nhiều tác phẩm của mình đã đề cập đến việc GD lao động tự phục vụ đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ em.
Theo ông: “Phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em trước hết là trong quá trình lao động. Phẩm chất ấy thể hiện ở sự ham thích và thói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường ,. Như vậy sự thích thú và thói quen, ý thức lao động tự phục vụ bản thân chính là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức của các em. Ông cho rằng nên cho các em làm việc dễ dàng nhưng có ích từ khi các em còn nhỏ.
Việc thực hiện các ý thức tự phục vụ như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc, xếp đồ, xếp sách vở. là những công việc dễ dàng vừa sức trẻ mà vô cùng có ích đối với sức khỏe và vẻ đẹp con người.Traboxkaia, 1971) Dựa trên quan điểm: “Kiên quyết yêu cầu phải để các em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa„ của Crupxkaia, tác giả cho rằng: “Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải nhàn rỗi. Các em sẽ không thấy hạnh phúc khi bố mẹ cứ phục vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu (A. Đồng thời tác giả đưa ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là: “Không làm thay con cái những việc mà các em có thể tự làm được, ngay cả với những em bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa mặt, đánh răng, soạn sách vở, vệ sinh cá nhân,.Usinxki người sáng lập khoa học GD Nga, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra rằng sự phát triển của trẻ em là kết quả lao động của bản thân các em qua hoạt động nhận thức và trí tuệ (K.Macarenco nhà GD lớn người Nga, rất quan tâm tới việc GD trẻ em thông qua lao động, GD ý thức tự phục vụ cho các em, nguyên tắc lý tưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấp dẫn học sinh và kích thích họ cố gắng, đạt được những kết quả tốt đẹp.
Theo hai tác giả trong lĩnh vực lao động không dùng khen thưởng và trách phạt, tác giả cho rằng: “Nhiệm vụ lao động và sự hoàn thành nhiệm vụ đó đã khiến cho nhi đồng vui sướng thoải mái rồi. Khi thừa nhận công tác của các em là tốt thì đó phải là cái phần thưởng rất quý đối với lao động của các em. Đối với trẻ em cần phải GD các em thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khả năng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó ý thức trách nhiệm đối với bản thân 11 và mọi người. Tác giả quan tâm trước tiên tới GD và phát triển ý thức tự phục vụ ở các em thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều ý thức ở các em (A.Macarenco, 1936) Kỷ năng tự phục vụ cho bản thân là một trong những khía cạnh giúp hình thành nhân cách ở học sinh.
Việc GD ý thức tự phục vụ sẽ giúp cho học sinh có khả năng tự lập, tự hoạt động, cố gắng và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực bản thân từ đó hình thành nên phẩm chất đạo đức của học sinh. Nên để học sinh tự làm những việc mà các em có khả năng hoàn thành (A.Traboxkaia, 1971) Để hình thành ý thức tự phục vụ cho học sinh thì việc rèn luyện cần phải được tiến hành thường xuyên trong thời gian liên tục thông qua các biện pháp như làm mẫu, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sử dụng các trò chơi. Hiện nay xu hướng GD TH trên thế giới đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản rất quan tâm đến GD ý thức tự phục vụ cho HS. Họ cho rằng thiếu ý thức tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động tập thể, các nhà GD cho rằng cần GD các em ý thức tự phục vụ ngay từ khi các em còn rất nhỏ chứ không phải đợi đến lứa tuổi TH, việc nắm bắt các ý thức tự phục vụ giúp các em tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, không chỉ có lợi cho sự phát triển của các em mà hữu ích cho cả người lớn.
Các nghiên cứu trong nước Khái niệm “kỹ năng sống” thực sự được hiểu một cách đúng đắn và chặt chẽ, sau hội thảo “Chất lượng GD và kỹ năng sống” do UNICEF tổ chức năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó người làm công tác GD ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống. Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động và rất đầy đủ, hệ thống tiếp cận thực hiện GD kỹ năng sống cho học sinh do ngành GD thực hiện. GD đã triển khai chương trình GD kỹ năng sống vào hệ thống GD chính quy và không chính quy.
Nội dung GD nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GD kỹ năng sống.