phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Ngƣời có tài mà không có đức là ngƣời vô dụng, ngƣời có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Với lứa tuổi học sinh trong giai đoạn hiện nay thì “tài” – tri thức, kiến thức, kỹ năng học tập, kỹ năng làm việc và “đức” – đạo đức, nhân cách làm ngƣời luôn là hai yếu tố song hành, gắn chặt với nhau tạo nên con ngƣời hoàn thiện. Một nền giáo dục thành công là cần chăm lo, quan tâm phát triển cả hai mặt “tài – đức” cho học sinh.
Ngày nay, trong xã hội hiện đại có nhiều thay đổi, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội. và lối sống với tốc độ nhanh, đã làm nảy sinh những vấn đề mà trƣớc đây con ngƣời chƣa gặp, chƣa trải nghiệm, chƣa phải ứng phó, đƣơng đầu hoặc có những vấn đề đã xuất hiện trƣớc đây nhƣng nó chƣa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức, nên con ngƣời dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro. Nói cách khác, để đến bến bờ thành công và hạnh phúc trong cuộc đời, con ngƣời sống trong xã hội trƣớc đây ít gặp những rủi ro và thách thức nhƣ con ngƣời sống trong xã hội hiện đại. Chính vì vậy, con ngƣời nói chung và HS nói riêng, cần phải có KNS để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hóa mà mục đích chính là nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Vì vậy, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho HS phổ thông nói riêng đƣợc đông đảo các nƣớc trên thế giới đặc biệt quan tâm. GDKNS gắn liền với giáo dục giá trị sống; Giáo dục các giá trị sống đƣợc xây dựng và phát triển bắt đầu từ một dự án quốc tế do trƣờng Đại học Brahma Kumaris 7 World Spiritual (BKWSU) phối hợp cùng Ban Giáo dục UNICEF thực hiện. Vào tháng 8/1996 các tổ chức giáo dục trên thế giới họp mặt tại trụ sở của UNICEF ở NewYork để cùng bàn về các nhu cầu của trẻ em trên toàn thế giới, chia sẻ kinh nghiệm làm việc với các giá trị và cách thức truyền tải các giá trị sống để tạo lập hành trang tốt hơn cho sinh viên trong quá trình học tập suốt đời. Dựa trên các khái niệm về giá trị, các tài liệu giá trị sống của trƣờng BKWSU cùng với Hiệp ƣớc về Quyền trẻ em, các nhà giáo dục trên thế giới đã xác định và thống nhất mục đích và mục tiêu của việc giáo dục các giá trị sống cho hệ thống giáo dục trên toàn thế giới.
Chƣơng trình giáo dục giá trị sống (LVEP-Living Values Education Program) ra đời với mục đích là nhằm cung cấp những nguyên tắc hƣớng dẫn và công cụ cho sự phát triển của một con ngƣời toàn diện trên tất cả các mặt về thể chất, trí tuệ, cảm xúc và tinh thần. [39] Năm 1996, UNESCO đã đề xuất bốn mục tiêu trụ cột của việc học tập là “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình”. Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “Những giá trị sống: Một chƣơng trình giáo dục”. Chƣơng trình này đƣa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phƣơng pháp thực hành đối với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, tự do, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, tình yêu, hoà bình, tôn trọng, trách nhiệm, giản dị, khoan dung và đoàn kết.
Bƣớc vào thế kỷ XXI, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia. Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định. UNESCO đã nêu: “Đánh giá chất lƣợng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt đƣợc các KNS và tác động của KNS đối với xã hội và cá nhân”. Hiện nay, GDKNS cho HS đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và cùng xuất phát từ quan điểm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO nhƣng ở mỗi 8 quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan điểm và nội dung, có nƣớc thực hiện theo đúng chuẩn kỹ năng nhƣng cũng có nƣớc mở rộng thêm chứ không chỉ bao hàm KNS là những khả năng về tâm lý, xã hội.
Những quan niệm, nội dung GDKNS đƣợc triển khai vừa thể hiện nét chung, vừa thể hiện nét đặc thù của từng quốc gia. Nhƣ vậy, đa số các quốc gia đều mới bƣớc đầu triển khai GDKNS nên những nghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chƣa thật toàn diện và sâu sắc. Cho đến nay, chƣa có quốc gia nào đƣa ra đƣợc kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lƣợng KNS. Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS đƣợc giới thiệu trong chƣơng trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi nhƣ: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.
Ở giai đoạn này, chƣơng trình chỉ tập trung vào các chủ đề GD sức khỏe của thanh thiếu niên. Các nghiên cứu trong nƣớc Thuật ngữ KNS đƣợc ngƣời Việt Nam bắt đầu biết đến từ những năm 1995- 1996, thông qua dự án “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng” do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ GD&ĐT cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Trong quá trình thực hiện chƣơng trình này, nội dung của khái niệm KNS và GDKNS ngày càng đƣợc mở rộng trong các nhà trƣờng. Chƣơng trình đƣợc tiến hành thực nghiệm cho HS THCS và trẻ em ngoài trƣờng học ở một số tỉnh, thành trong nƣớc.
Các em đƣợc tiếp cận với thông tin và kiến thức liên quan đến các vấn đề sống an toàn, mạnh khỏe và phòng tránh HIV; rèn luyện KNS thiết thực để ứng phó với các vấn đề ảnh hƣởng đến cuộc sống an toàn khỏe mạnh của trẻ em nhƣ HIV, ma túy và các chất gây nghiện khác,. Mục tiêu của chƣơng trình là hình thành thái độ tích cực của HS đối với việc xây dựng cuộc sống khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; nâng cao nhận thức của cha mẹ HS về KNS… để họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình. [19] 9 Trong những năm gần đây, KNS trở thành thuật ngữ mang tính thời sự, đƣợc nhắc đến nhiều hơn bao giờ hết trong những chƣơng trình về GD. Và từ đó, GDKNS cho HS nói riêng, thế hệ trẻ nói chung đã trở thành vấn đề không chỉ riêng ngành giáo dục (GD) mà đƣợc cả xã hội quan tâm.
Quan điểm GD phát triển toàn diện đƣợc trình bày trong rất nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc. Trong lĩnh vực GD, điều này đƣợc khẳng định trong Luật GD năm 2019 đã xác định rõ “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con ngƣời Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nƣớc, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. [13] Ngày 22 tháng 7 năm 2008, Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trƣờng học thân thiện, HS tích cực” trong các trƣờng phổ thông giai đoạn 2008-2013 với mục tiêu liên quan đến KNS là: “Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nƣớc và các tai nạn thƣơng tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội”.[38] Từ năm học 2009-2010, Bộ GD&ĐT đã đƣa chƣơng trình GDKNS cho HS vào Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học. Ngày 04/11/2013, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (khóa XI) cũng đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với mục tiêu cụ thể liên quan đến KNS là: “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dƣỡng năng khiếu, định hƣớng nghề nghiệp cho HS.
Nâng cao chất lƣợng GD toàn diện, chú trọng GD lý tƣởng, truyền thống, đạo đức, 10 lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. [7] Tuy nhiên cho đến nay, nghiên cứu KNS tại Việt Nam hay triển khai chƣơng trình rèn luyện KNS cho HS chỉ mới thể hiện rõ ở chƣơng trình GD ngoài khung chƣơng trình đào tạo hoặc chỉ lồng ghép, tích hợp vào các môn học, các hoạt động GD trong nhà trƣờng và cũng chƣa có văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình chính thống về giảng dạy KNS cho HS. Đây là một nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc GDKNS tại Việt Nam hiện nay.