Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống Trên thế giới, từ lâu, đã có nhiều nghiên cứu lý luận về KNS và GDKNS, GDKNS với nội dung cơ bản là đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho nguồn nhân lực là mối quan tâm hàng đầu của các ông chủ cùng các chuyên gia cộng sự thuộc quyền và con người, phát triển năng lực con người là những vấn đề trọng yếu trong các nghiên cứu trên toàn cầu, đặc biệt nổi bật có GDKNS và KNS. Kỹ năng sống là năng lực cá nhân, là điều kiện để con người thực thi đảm bảo các chức năng và sống đời sống hàng ngày.
Những năm 1960, các khía cạnh: khái niệm, nội dung và hình thức GDKNS đã được quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu bởi các nhà khoa học trên thế giới, từ đây khái niệm KNS và GDKNS từng bước được hình thành và phát triển đầy đủ và rõ nét. Kiến thức-Kỹ năng-Thái độ là các thành tố hợp thành học vấn của một trong người mà trong nghiên cứu của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã chỉ ra đã mang đến hơi hướng mới cho giáo dục toàn cầu, trong đó khẳng định kỹ năng và thái độ là hai thành tố đóng vai trò then chốt [8]. Thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã có mặt trong nhiều chương trình giáo dục và chương trình hành động của các tổ chức lớn ở nhiều nước trên thế giới từ những năm 1990, khái niệm chung về KNS, GDKNS, mục tiêu - nội dung GDKNS là các vấn đề được tập trung hướng đến trong tất cả các nghiên cứu và ra đời trong sự thống nhất nghiên cứu về mục tiêu GDKNS là nâng cao tiềm năng của con người, để con người có được những hành động nhằm thích ứng, làm chủ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, các tổ chức lớn trên thế giới khuyến khích, cổ vũ việc các quốc gia đưa GDKNS vào trong chương trình giáo dục của mình.
Theo tổ chức UNESCO, hệ thống KNS gồm 2 nhóm: Nhóm những KNS khái quát, cơ bản gồm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng đương đầu với cảm xúc, kỹ năng xã hội (kỹ năng tương tác) và nhóm những kỹ năng cụ thể: phòng chống bạo lực, bảo vệ thiên nhiên và môi trường, gia đình và cộng đồng và các vấn đề về giới [136]. Theo Tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc) thì GDKNS tạo ra sự thay đổi hành vi, sự chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động. Theo Tổ chức luan an 12 này, các kỹ năng đọc, viết, tính toán là những trở ngại lớn nhất và nhiều nhất mà trẻ em và các thanh niên phải đối mặt. UNICEF đã đề xuất một hệ thống KNS gồm 3 nhóm kỹ năng phản ánh toàn bộ quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân như sau: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình (kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kỹ năng bảo vệ bản thân,…); Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác (kỹ năng thiết lập quan hệ., kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm,…); Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả (kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng nhận thức thực tế, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng ứng xử, kỹ năng giải quyết vấn đề,…) [14].
Theo Tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới) hệ thống KNS cần đạt được ở người học gồm các nhóm kỹ năng sống sau: Nhóm kỹ năng nhận thức (kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng nhận thức hậu quả, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo,…); Nhóm kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương lượng, kỹ năng từ chối, kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết đoán, kỹ năng cảm nhận ý chí của người khác, kỹ năng hợp tác, kỹ năng đồng cảm và chia sẻ,…), Nhóm kỹ năng đương đầu với cảm xúc (kỹ năng kiềm chế căng thẳng, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự quản lý, kỹ năng tự giám sát, kỹ năng tự điều chỉnh, kỹ năng ý thức trách nhiệm, kỹ năng cam kết,…). Trên cơ sở hệ thống các nhóm KNS nêu trên, WHO cho rằng: Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, cụ thể năng lực tâm lý xã hội của mỗi con người phát huy được tiềm năng tốt về mặt thể chất, tinh thần và mặt xã hội của cá nhân đó, có nghĩa rằng KNS là năng lực tâm lý giúp cá nhân ứng phó hiệu quả và có được trạng thái ổn định trước những yêu cầu, thách thức của cuộc sống, duy trì được sự khoẻ mạnh về tinh thần cùng các hành vi tích cực và phù hợp khi tương tác với con người, nền văn hoá và môi trường sống [88]. Khái quát chung, 10 KNS cơ bản, cần thiết hướng tới phát triển năng lực con người: kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹ năng ứng phó với cảm xúc, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng truyền thông có hiệu quả, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định là quan điểm thống nhất từ các Tổ chức UNESCO, UNICEF và WHO [72]. luan an 13 Từ những năm 2000, mục tiêu GDKNS và hình thành thái độ được quan tâm và nhấn mạnh trong chương trình giáo dục ở tất cả các lứa tuổi của các quốc gia trên thế giới.
Đặc biệt, GDKNS cho HS trong nhà trường đã được thực hiện rộng khắp trên toàn cầu. Theo tài liệu của UNICEF, đã có hơn 155 quốc gia đưa GDKNS vào trường học thông qua nhiều con đường khác nhau và Kế hoạch hành động DaKar năm 2000 về giáo dục cho mọi người có nội dung yêu cầu mỗi quốc gia cần thiết phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với GDKNS phù hợp với điều kiện của quốc gia mình [123]. Trong những năm gần đây, vấn đề lý luận và thực tiễn về GDKNS dành cho hầu hết các lực lượng giáo dục liên quan được rất nhiều nghiên cứu tổng kết và giới thiệu: Early Years Play and Learning: Developing social skills and cooperation (Phát triển kỹ năng xã hội và hợp tác thông qua học tập và vui chơi trong những năm đầu đời) của Pat Broadhead (2004) hướng dẫn giáo viên dạy trẻ các kỹ năng liên quan đến ngôn ngữ, trí tuệ và cảm xúc và hướng dẫn học sinh tham gia, đánh giá khi chơi các trò chơi KNS; Life Skill Education and Curriculum (Chương trình và Giáo dục Kỹ năng sống) của Graccious Thomas (2006) nhấn mạnh vai trò của giáo viên và huấn luyện viên trong việc tổ chức học sinh tiếp cận KNS; The Indispensable-Book of Practical Life Skills (Sách về những kỹ năng thực hành thiết yếu) của Nic Compton (2009) đề xuất các phương thức giải quyết các tình huống cuộc sống trong trạng thái lo lắng, hoang mang ở trẻ; The Practical Life Skills Workbook (Sách hướng dấn thực hành kỹ năng sống) của Ester A. Leutenberg và John J.
Bên cạnh các nghiên cứu lý luận hình thành nên một luận điểm khoa học mới về KNS và GDKNS là các nghiên cứu ứng dụng trong thực tiễn về GDKNS cho HS tiểu học của nhiều nhà khoa học trên thế giới cung cấp cho nền khoa học giáo dục nhiều nguồn thông tin có giá trị. Tại Mỹ, Jane Tuttle, Nancy Campbell-Heider, Tamala M. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu về GDKNS cho HS tiểu học về phát triển kỹ năng suy luận cho HS tiểu học thông qua các chương trình giáo dục kỹ năng xã hội của Muge Yukay Yuksel (2013) đã chỉ ra rằng hành vi xã hội ở trường của trẻ không đồng nhất với khả năng học tập, tuy nhiên sự thông minh của trẻ có tác động tích cực đến năng lực hiểu biết xã hội, năng lực học thuật và hành vi chống đối xã hội; ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt về KNS của trẻ ở trường tiểu học phụ thuộc vào giới tính, cụ thể: năng lực xã hội của trẻ em nữ cao hơn trẻ em nam, trong khi đó hành vi xã hội không tích cực ở trẻ em nam cao hơn ở trẻ em nữ [128]. Tại Canada, với chương trình GDKNS thông qua hoạt động thể thao đồng đội, nhà nghiên cứu Marios Goudas, Georgios Giannoudis (2007) đã đánh giá trên 165 học sinh độ tuổi 11 - 13 tuổi về thành tích thể thao, kỹ năng xây dựng mục tiêu và giải quyết vấn đề, kết quả nhóm trẻ thực nghiệm này có năng lực cao hơn nhóm trẻ đối chứng [124] và đồng thời từ năm 1985 đến 2006 là nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Shauna Kingsnorth, Helen Healy, Colin Macarthur (2007) đã đi đến xây dựng chương trình GDKNS giúp hình thành và phát triển kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên thiểu năng [134].
Bên cạnh đó, năm 2011 kết quả nghiên cứu việc huấn luyện KNS làm gia tăng kỹ năng tôn trọng, kỷ luật học đường và nhân cách của sinh viên thành phố Karaj, Iran thông qua phương pháp thang đo của Cooper Smith về lòng tự trọng cũng được khẳng định bởi nhóm các nhà khoa luan an 15 học Esmaeilinasab Maryam, Malek Mohamadi Davuod, Ghiasvand Zahra, Bahrami Somayeh [115]. Ở một số nước khác, các nghiên cứu về hiệu quả của GDKNS cho HS cũng phát triển mạnh: Nghiên cứu rất thành công về kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh lớp 4 dựa trên thang đo kỹ năng xã hội Mattston của nhóm các nhà khoa học Bita Rahmati, Nastaran Adibrad, Karineh Tahmasian, Bahram Saleh Sedghpour (2010), trong nghiên cứu này các nhà khoa học xem GDKNS là một tiếp cận có tác dụng làm thay đổi hành vi với sự phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của người học như tự nhận thức, giao tiếp, ra quyết định, quản lý cảm xúc, quyết đoán, xây dựng mối quan hệ [110]. Một nghiên cứu khác đã chứng minh rằng chương trình huấn luyện GDKNS đã làm gia tăng sự hài lòng của nữ sinh, nghiên cứu được Akbar Mohammadi (2011) thực hiện trên một chương trình GDKNS bởi công cụ đánh giá đối chứng trước và sau khi thực hiện chương trình thông qua một bảng hỏi về sự hài lòng đối với cuộc sống của nữ sinh trường trung học Tabriz, Iran [108].