Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc cấp THCS Chương 2. Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc trường THCS Kim Thượng – Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ. Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc trường THCS Kim Thượng – Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Vài nét về phạm vi nghiên cứu và công tác chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS Kỹ năng sống là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ XX, đặc biệt là thời gian gần đây. Sở dĩ vấn đề này được quan tâm nghiên cứu nhiều vì KNS được xác định là nguyên nhân giữ vai trò quan trọng sự thành công hay thất bại của cuộc đời mỗi người. KNS được gọi bằng nhiều tên khác nhau như kỹ năng mềm (soft skills), KNS (life skills).có nhiều nghiên cứu được tiến hành ở các nước về những kỹ năng cơ bản góp phần vào sự thành công của công việc, và trong đó, chủ yếu là những KNS Tại các nước như Mỹ, Úc, Canada, Anh, Sigapope,.
đều có những cơ quan chuyên trách về việc nghiên cứu, đánh giá và đạo tạo các kỹ năng cho người lao động. Trong những kỹ năng góp phần vào sự thành công của người lao động, người ta nhấn mạnh đến các kỹ năng như học và tự học, lắng nghe, thuyết trình, giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, quản lý bản thân và tinh thần tự tôn, xây dựng mục tiêu công việc, phát triển cá nhân và sự nghiệp, lãnh đạo. Chính vì vậy, ở nhiều nước trên thế giới, KNS đã được đưa vào giảng dạy cho trẻ ngay từ tiểu học. Đặc biệt KNS được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn khi tổ chức văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên Hợp quốc (UNESCO) đề cập đến vai trò của KNS trong mục đích học tập thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Từ việc xác định mục đích này, UNESCO và quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã tiến hành nhiều dự án nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS.
Tại các nước Đông nam Á, những nghiên cứu về KNS đang được quan 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước ĐNA nhằm vào nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến KNS. Kết quả của dự án là bức tranh tổng thể các quan niệm về KNS mà các nước tham dự đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng. Trên cơ sở đó, đưa ra một khái nhệm chung để các nước tham khảo sử dụng cho phù hợp với hoàn cảnh mỗi nước.
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNECEF 1996. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như; Kỹ năng tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, kiên định, đặt mục tiêu.do các chuyên gia Úc tập huấn. Tham gia chương trình này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ. Sang giai đoạn 2, chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”.
Ngoài ngành giáo dục, đối tác tham gia còn có hai tổ chức chính trị - xã hội là trung ương Đoàn THCS Hồ Chí Minh và Hội LHPN Việt Nam. Vấn đề KNS và giáo dục KNS cho học sinh phổ thông ở nước ta đã và đang được đặc biệt quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu của các nước khoa học đề cập đến vấn đề này, như Nguyễn Thanh Bình, Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Oanh và nhiều nhà tâm lý, giáo dục khác. - Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xây dựng thuyết cơ bản về KNS và giáo dục KNS cho học sinh và cấp từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Tác giả đã quan tâm sâu sắc đến giáo dục KNS cho học sinh THCS, nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý, xã hội của lứa tuổi học sinh THCS, những KNS cần giáo dục cho học sinh ở lứa tuổi này và xây dựng các phương pháp, biện pháp giáo dục KNS cho học sinh.
- Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã đề cập sự cần thiết phải chuẩn bị cho tuổi trẻ có những kỹ năng để bước vào đời, sự cần thiết phải rèn luyện những kỹ năng để sống và thích ứng với cuộc sống muôn màu, muôn vẻ đang diễn ra. - Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã đề cập sự cần thiết phải giáo dục KNS 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho tuổi trẻ, xác định trách nhiệm của người lớn đối với giáo dục KNS cho trẻ. Yêu cầu đối với nhà giáo dục là không phải chỉ rành tâm lý nhóm vào công tác giáo dục KNS. Nều tảng giáo dục KNS là ý thức về giá trị của bản thân nhóm trẻ, tuy nhiên cộng đồng, xã hội chưa có được nhận thức đầy đủ về vấn đề này.
Các Trung tâm giáo dục KNS ở những thành phố lớn đã xây dựng những chương trình giáo dục KNS cho tuổi trẻ. Các chuyên gia đã dịch các tài liệu giáo dục KNS của nước ngoài vận dụng vào những điều kiện cụ thể để giảng dạy. Trong những năm gần đây, việc giáo dục KNS cho học sinh đã được các nhà trường đưa vào giảng dạy bằng cách lồng ghép vào các môn học và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, văn nghệ, thể dục thể thao, tham gia các hoạt động xã hội. Nhìn chung, đã có không ít các đề tài nghiên cứu về KNS dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học và công tác quản lý.
Tuy nhiên chúng tôi chưa thấy tác giả nào bàn về vấn đề quản lý giáo dục KNS cho học sinh dân tộc THCS vùng Tây Bắc nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng. Đặc thù việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc : để thực hiện tốt việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc cần lưu ý những nội dung sau đây: Tìm hiểu phong tục tập quán địa phương nơi học sinh dân tộc đang sinh sống, bởi vì mỗi dân tộc có những đặc trưng khác nhau về ngôn ngữ, phong tục, sinh hoạt và giá trị văn hóa khác nhau. Tìm hiểu điều kiện phát triển kinh tế xã hội nơi học sinh đang sinh sống, bởi vì điều kiện phát triển kinh tế xã hội có tác động to lớn đến các yếu tố giáo dục kỹ năng sống cho học sinh như : Độ tuổi, góc độ phát triển giới tính, điều kiện học tập và giao lưu văn hóa, xã hội. Thực sự hòa nhập với địa phương, với môi trường học sinh đang sinh sống, từ đó gây dựng được lòng tin, xây dựng được mối quan hệ với nhân dân 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại phương và học sinh có như vậy mới thực hiện được việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Xây dựng kế hoạch cụ thể cho công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, kế hoạch đó phải được điều chỉnh theo từng hoàn cảnh, thời gian cho phù hợp với đối tượng học sinh tham gia. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Theo quan niệm truyền thống, quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định. Theo quan niệm hiện nay, quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu.
Theo góc độ chính trị - xã hội, “quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren”. Theo góc độ hành động, “Quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành; “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Ngoài ra, một số quan niệm về quản lý của các tác giả và tài liệu dưới đây được nhiều người chấp nhận. Theo Đại học bách khoa toàn thư Liên Xô 1977 “Quản lý là chức năng của hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” Theo Harold Koontz “Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Trần Kiểm cho rằng “Quản lý làm nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”, Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với kết quả cao nhất”. Theo Trần Quốc Thành “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.
Tìm hiểu các định nghĩa trên, ta thấy có một số ý đồng nhất: - Về đối tượng: Trong quản lý có hai đối tượng là chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý trong một tổ chức, đơn vị hay nhóm xã hội. - Về mục đích: Quản lý bao giờ cũng nhằm để đạt được một kết quả, một mục tiêu nhất định. - Về phương thức: Quản lý là một quá trình điều khiển, phối hợp, tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu. - Về điều kiện quản lý: Tiến hành trong một hoàn cảnh, thời gian, với các nguồn lực trong và ngoài tổ chức, Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu: Quản lý là sự điều khiển, phối hợp, tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động (lao động, học tập, nghiên cứu, ứng dụng.) của một tổ chức, một đơn vị với các điều kiện nhất định (không gian, thời gian, nguồn lực.) nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.