CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Theo Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) (United Nations International Children’s Emergency Fund). Thuật ngữ "Kĩ năng sống" đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỉ XX trong chương trình giáo dục nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ 12 giá trị sống cơ bản.
Nhiều nghiên cứu về kĩ năng sống được tiến hành, trong đó dự án của UNESCO tại Đông Nam Á là tiêu biểu. [30]Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập, hệ thống giáo dục đang thay đổi để đào tạo cho thế hệ trẻ những năng lực chủ yếu giúp thích ứng với thay đổi nhanh chóng trong xã hội. Ở phương Tây các nghiên cứu về kỹ năng chủ yếu theo hướng tâm lý học hành vi của J. Tâm lý học chức năng của A.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về hệ thống kỹ năng của người giáo viên của K.King (1993) [39], “Sự phát triển nhận thức trong học tập và giảng dạy” của F.Weinert (1998) [15], Nghiên cứu về quá trình hình thành trí tuệ của P.Ganlperin (1978), [22], về kỹ năng giáo dục của J. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm của A.Covaliov quan niệm kỹ năng là phương thức thực hiện hành động mà con người đã nắm vững. Người có kỹ năng hoạt động là người nắm được các tri thức về cách tiến hành hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó. 8 Nghiên cứu về khả năng của con người.
Kixegof [38] cho rằng việc biểu đạt các kỹ năng thực hiện hành động có kết quả chất lượng cao, trong thời gian và điều kiện đã định sẵn là rất quan trọng. Có tới 143 nước trên thế giới quan tâm tới giáo dục kĩ năng sống bằng cách đưa chúng vào chương trình giảng dạy của THCS và Trung học. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện qua 3 hình thức chủ yếu là: (1) kĩ năng sống là môn học riêng, (2) tích hợp kĩ năng sống vào các môn học chính, (3) tích hợp kĩ năng sống vào tất cả các môn học trong chương trình. Một số nước tích hợp kĩ năng sống vào nội dung các môn học, chủ yếu là khoa học xã hội như giáo dục sức khoẻ hay giáo dục giới tính.
Một số nước sử dụng tiếp cận "Whole School Approach" bằng cách xây dựng trường học thân thiện với mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, chỉ có một số ít nước đưa kĩ năng sống thành môn học riêng biệt như Ma-la-wi hay Căm-pu-chia. Phương pháp giáo dục kỹ năng sống của Quest International (1990) dựa trên nghiên cứu chiến lược dạy và học và đề xuất "phương pháp luận học tập kỹ năng sống" gồm 4 phần, dựa trên 6 giả thiết cơ bản về học tập là: mục đích, kết nối thông tin, chiến lược, giai đoạn, đệ quy và phát triển. WHO khuyên rằng phương pháp học tập tích cực là cách tốt nhất để học các kỹ năng sống.
Trong việc để hình thành các kỹ năng, phương pháp này sử dụng người học làm trung tâm, và kết hợp với hoạt động nhóm như quan sát, luyện tập hoạt động cặp, động não, sắm vai, hoặc thảo luận. Nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ XX. Các yêu cầu giáo dục kỹ năng cho học sinh được đề cập trong các công trình như "Người thầy giáo trong sự nghiệp phát triển giáo dục" của nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Cương và Dương Xuân Trinh [34] và Nghiên cứu về lý luận dạy học của nhóm tác giả: Đỗ Long, Lê Thanh Hương, Vũ Tùng Hoa, Mai Thanh Thế (1999) [20]. 9 Nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và thực trạng giáo dục kỹ năng sống cũng được triển khai vào năm 2003.
Hiện nay, có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của nhiều tác giả như PGS-TS Võ Nguyên Du [14] với đề tài “ một số nội dung và biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em trong gia đình”. PGS-TS Nguyễn Thanh Bình, [4] với đề tài KHCN cấp bộ “ Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo dục kĩ năng sống cơ bản cho học sinh trung học phổ thông”, TS Tâm lý học: Huỳnh Văn Sơn, với “Bạn trẻ và kỹ năng sống” [27]. PGS-TS Nguyễn Dục Quang với “ Hướng dẫn giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông” [23] TS Lưu Thu Thuỷ, với bài viết “ giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động giao dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên sư phạm – một vấn đề cấp thiết” [31]. GS-TS Nguyễn Quang Uẩn với “giáo trình tâm lí học đại cương”.
[34] Tác giả Nguyễn Thanh Bình là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. Các bài báo, đề tài nghiên cứu và tài liệu của ông [2], [3], [4] ,đã góp phần tạo ra những hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực này. Ông đã chỉ ra rằng chương trình và tài liệu giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy rất đa dạng về hình thức như: - Chương trình dạy chữ được mở rộng bao gồm nhiều chủ đề học vấn và các môn học khác nhau, cũng như các kĩ năng sống và sức khỏe. Ví dụ, một số chương trình dạy chữ có thể đưa kĩ năng sống vào để giúp xoá mù chữ.
Bên cạnh đó, các chương trình này cũng có thể kết hợp với các môn học khác như nông nghiệp, bảo tồn môi trường và HIV/AIDS. + Dạy các nội dung: tạo thu nhập; môi trường, kĩ năng nghề; kĩ năng kinh doanh…là những thứ mà người học cần. Tác giả cũng cho rằng“Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [2]. 10 Nhiệm vụ hình thành hệ thống kỹ năng thì tác giả Lê Tuấn Kiệt cho rằng phải thông qua các các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các HĐ văn hóa văn nghệ thể dục thể thao hoặc vui chơi giải trí và các hoạt đọng xã hội khác [18] Nhiên cứu về quản lý giáo dục tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) trong tác phẩm “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” [24]; đã đưa ra khái niệm: “ Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu dự kiến”.
Tác phẩm “Quản lý giáo dục và trường học” (1997) Giáo trình dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học của tác giả Trần Kiểm cho rằng “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. [19] Tổng thể, có rất nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục và các tác giả tập trung vào nhiều vấn đề căn bản của quản lý giáo dục, bao gồm bản chất quá trình quản lý, nội dung và hình thức quản lý, và các yếu tố tác động và biện pháp để nâng cao chất lượng. Từ nền tảng này, các tác giả đã đưa ra vai trò quan trọng của quản lý trong việc cải tiến chất lượng giáo dục và nhấn mạnh rằng cần tăng cường các biện pháp quản lý để đạt được mục tiêu này. Giáo dục kĩ năng sống rất quan trọng trong giáo dục toàn cầu, tuy nhiên chỉ ít quốc gia đưa nó vào giảng dạy cụ thể.
Có nhiều nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống, nhưng ít quan tâm đến quản lý giáo dục kĩ năng sống, đặc biệt là ở trường trung học cơ sở, và chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động và quản lí giáo dục kĩ năng sống, do đó, hiệu quả của nó còn thấp. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn rất ít và tác giả Phạm Thị Nga trong luận án tiến sỹ (2016) [21] đã đề xuất 6 biện pháp để quản lý các hoạt động trong trường. Tuy nhiên, còn thiếu bộ tiêu chí đánh giá. Nghiên cứu này chủ yếu phục vụ cho việc hoạch định chính sách giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS.
11 Năm 2013 tác giả Dương Minh Tùng trong luận văn thạc sĩ của mình với đề tài ‘‘ quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh’’ [32] tác giả đã nêu ra các nhân tố tác động và nội dung quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống, nghiên cứu thực trạng, đề ra các biện pháp giáo dục kỹ năng sống, và tiến hành khảo nghiệm các biện pháp nêu trên đại bàn Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên tác giả cũng không đánh giá các tiêu chí đánh giá cũng như các biện pháp mà tác giả đề cập mới chỉ phù hợp với Thành Phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn với điều kiện KTXH rất phát triển. Các khái niệm chính của đề tài 1. Kỹ năng sống WHO [29] cho rằng Kỹ năng sống là khả năng thích ứng và tích cực, giúp duy trì tình trạng khỏe mạnh tinh thần và xã hội.
Năng lực tâm lý xã hội quan trọng để phát triển sức khỏe toàn diện. UNICEF [28] nhấn mạnh cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới thông qua cân bằng tiếp thu kiến thức, thái độ và kĩ năng. Kĩ năng sống cần để phân tích tình huống và ứng xử, tránh tình huống không mong muốn và chuyển đổi kiến thức, thái độ và giá trị thành hành động tích cực và mang tính xây dựng. Kĩ năng sống theo UNESCO gắn liền với 4 trụ cột giáo dục gồm: Học để biết, Học làm người, Học để sống với người khác và Học để làm.
Những kĩ năng này bao gồm từ kĩ năng tư duy đến kĩ năng xã hội và giúp con người trở nên tự nhận thức, tự tin và có thể thích nghi với các thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Mạc Văn Trang khẳng định kĩ năng sống là khả năng biểu hiện những giá trị sống và giao tiếp một cách hiệu quả.