CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO VẬN ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM VÕ THUẬT 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một nội dung giáo dục quan trọng, nhằm giúp các nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục nhân cách người học. Khi còn sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”; “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm’’[2;136]. Kế thừa tư tưởng của Người về giáo dục đạo đức cho học sinh và con người; nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về giáo dục đạo đức, xem đó như là động lực, tinh thần để xây dựng và rèn luyện, hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định cũng như sự phát triển của xã hội.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc – một trong những nhà tâm lý học hàng đầu của nước ta đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH và bàn về thực trạng cũng như giải pháp ở tầm vĩ mô về giáo dục - đào tạo con người Việt Nam theo định hướng trên. Về mục tiêu giáo dục, tác giả Phạm Minh Hạc nêu rõ: “Hình thành cho mọi công dân có thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc, với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh,… tổ chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ để mọi người tự giác những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH- HĐH đất nước [8;169] Dưới góc độ nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước: Ở phương Tây, thời Hy Lạp – La Mã cổ đại, nhà triết học Socrate (669- 6 399 TCN) đã nhìn nhận tín thiện của con người chính là cái gốc của đạo đức. Cho nên, muốn xác định được chuẩn mực đạo đức thì phải bằng nhận thức lý tính với phương thức, phương pháp nhận thức khoa học vốn [1,tr21]. Phương Đông cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) vốn là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc.Ông cho rằng: “Tiên học lễ, hậu học văn”[1,tr32] vẫn còn được lưu truyền mãi đến ngày hôm nay.
Ở nước ta, hơn ai hết, Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ cho cán bộ, HS. Bác Hồ cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng ở mỗi người là kết quả của sự rèn luyện trong thực tế, trong đấu tranh một cách bền bỉ và thường xuyên. Người căn dặn: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống.
Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển củng cố,cũng như ngọc mài càng ngày càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [13]. Tổng bí thư Lê Duẩn đã nói: “Chủ yếu là do tình hình cách mạng của cả nước ta đòi hỏi chúng ta phải nói nhiều đến phẩm chất đạo đức người cộng sản. Đó không phải là vấn đề cấp bách hiện nay do tình hình đòi hỏi, mà còn là vấn đề thường xuyên cần phải giáo dục, cần phải nói đi, nói lại, từ đây đến chủ nghĩa cộng sản… ”[6]. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, giai đoạn CNH-HĐH thì vấn đề giáo dục đạo đức cho cán bộ, học sinh, vận động viên lại càng được coi trọng.
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác này và đánh giá đó là nhiệm vụ hàng đầu của nền giáo dục XHCN. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam nêu rõ: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục nhân văn lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc’’ [4]. Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng trong công tác tư tưởng hiện nay đã lưu ý: “Cần hết sức coi trọng nhiệm vụ phát triển văn hóa, giáo dục, hướng vào việc xây dựng con người có 7 ý thức trách nhiệm công dân, có phẩm chất đạo đức tốt, có trí thức, có sức khỏe và lao động giỏi, sống có văn hóa và tình nghĩa. Giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế…” [17].
Để thực hiện tốt mục tiêu GDĐT theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đặt ra, Quốc hội nước ta đã thông qua luật Giáo dục. Điều 23 và đều 25 trong Luật Giáo dục 2005 đều đề cập đến mục tiêu cơ bản giáo dục đạo đức cho vận động viên phổ thông là: “Giáo dục cho vận động viên tiểu học nhằm giúp vận động viên hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mỹ…” [16]. Có thể khẳng định một lần nữa, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, thì vấn đề giáo dục đạo đức cho cán bộ, học sinh, vận động viên được Đảng, Nhà nước và các vị lãnh tụ, luôn đặt lên vị trí hàng đầu trong công tác giáo dục, vì nó là mục tiêu quan trọng nhất, là nền tảng của sự phát triển xã hội [12,tr26]. Đối với ngành TDTT, liên tục trong những năm gần đây, nhằm kịp thời chấn chỉnh những hiện tượng “xuống dốc” về đạo đức của vận động viên, Huấn luyện viên,… Ủy ban Thể dục thể thao (cũ) đã có những văn bản chỉ đạo kịp thời như: Chỉ thị 72-CT/UBTDTT; Chỉ thị số 182-CT/UBTDTT nhằm định hướng cho công tác GDĐĐ đối với VĐV và Huấn luyện viên.
Chỉ thị 72 đã chỉ rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác GDĐĐ cho vận động viên. Chỉ khi thực hiện tốt công tác giáo dục đạo đức này mới có thể đạt được mục tiêu trong giáo dục là đào tạo cán bộ TDTT vừa có trình độ chuyên môn giỏi, vừa có phẩm chất đạo đức trong sáng, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển đất nước. Chỉ thị cũng đã định hướng cho việc xây dựng bộ máy điều hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng và đánh giá cao vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, trong công tác GDĐĐ cho VĐV [5]. Nghị quyết Trung ương VIII của Đảng nhấn mạnh: “Coi trọng GDĐĐ, 8 ý chí, lòng tự hào dân tộc cho VĐV.
Tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng các VĐV xuất sắc và phát huy vai trò nêu gương của họ đối với lớp VĐV kế cận và với thanh thiếu niên nói chung. Kiên quyết đấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao, nhất là trong bóng đá và các môn thể thao thành tích cao” [18]. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, vấn đề đạo đức và công tác giáo dục đạo đức ở bất kỳ giai đoạn nào, thời điểm nào cũng luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm. Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc trồng người, quan tâm đến phẩm chất và năng lực người Việt Nam và coi đó là động lực cách mạng.
Mục tiêu của thể thao Việt Nam được Đảng và Nhà nước xác định là làm sao cho dân cường, nước thịnh, xã hội công bằng và văn minh. Vấn đề quản lý công tác giáo dục đạo đức cho vận động viên võ cũng có một số tác giả nghiên cứu, tuy nhiên ở Bình Định chưa có tác giả nào nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu để tìm ra các biện pháp khả thi, hữu hiệu cho công tác quản lý giáo dục đạo đức cho vận động viên trung tâm võ thuật cổ truyền tỉnh Bình Định là vấn đề mang tính cấp thiết. Việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho vận động viên có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho vận động viên trung tâm võ thuật cổ truyền tỉnh Bình Định.
Các khái niệm cơ bản 1. Đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc và chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hôị, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa 9 cá nhân với xã hội. Dưới góc độ Triết học: “ Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất cuả ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực đều tiết hành vi cuả con người, trong quan hệ với người khác và cộng đồng.
Căn cứ vào những năm quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi con người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa, nghĩa vụ, danh dự”[19,tr145]. Dưới góc độ Pháp luật: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những quy tắc sinh hoạt xã hội, những quy tắc hành vi con người,… những quy tắc đó quyết định nghĩa vụ và thái độ của con người đối với nhau và đối với xã hội’’ [21,tr117]. Khái niệm đạo đức còn liên quan chặt chẽ với các phạm trù triết học, pháp luật chính trị xã hội” [3,tr118]. Do đó, mỗi người khi sống trong xã hội đều có rất nhiều mối quan hệ phong phú, phức tạp.
Các mối quan hệ đó yêu cầu mỗi người phải có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích của mọi người, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Như vậy, vấn đề đạo đức nảy sinh trên cơ sở sự đều hành vi của mỗi cá nhân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mối quan hệ mật thiết giữa đạo đức - pháp luật - chính trị được thể hiện ở chỗ những quy định cụ thể bằng văn bản và Nghị quyết, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa luân lý. Tư tưởng chính trị của một nhà nước có thể thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử; tuy nhiên, yếu đạo đức lại được tồn tại lâu dài, bền bỉ kể cả khi phương pháp sản xuất của xã hội có thay đổi.
Qua từng chế độ xã hội khác nhau, những yếu tố đạo đức tiến bộ được phát huy, những yếu tố lạc hậu tất yếu sẽ bị triệt tiêu bởi tư tưởng đúng đắn của Nhà nước.