CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Trong hệ thống giáo dục hiện nay, giáo dục Tiểu học được xem là nền tảng. Cũng như xây một ngôi nhà, nền có chắc ngôi nhà mới vững. Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học được Bác Hồ ví như búp trên cành cần được nâng niu, chăm sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt.
Trước yêu cầu đổi mới một cách toàn diện của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục bậc Tiểu học nói riêng, người GV phải đặc biệt chú trọng đổi mới PPDH. Bởi việc đổi mới PPDH là một trong những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng GD&ĐT. Luật giáo dục có ghi: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[5,tr. Đổi mới PPDH chính là đòi hỏi người GV không chỉ trang bị cho HS những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hình thành ở HS tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành: Vận dụng PPDH dạy học tích hợp kiến thức vào môn học và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào trong quá trình dạy học chính là một trong những lời giải hữu hiệu cho bài toán đổi mới PPDH mà trong những năm gần đây được rất nhiều GV quan tâm và triển khai trong các trường Tiểu học.
Vậy dạy học tích hợp là gì? 1. Dạy học tích hợp a) Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp.” Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.” 10 Trong tiếng Anh tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp giữa các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để đảm bảo sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết. Dạy học tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước trên thế giới thực hiện. b) Khái niệm dạy học tích hợp được đưa ra dưới nhiều tiếp cận khác nhau. Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972 có đưa ra định nghĩa: Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau.
Với quan niệm trên, dạy học tích hợp nhằm các mục tiêu: (1) Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống, (2) Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo, (3) Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống thực tế, cụ thể, có ích cho cuộc sống sau này, (4) Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy HS mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ, chưa từng gặp. Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau 2015 cho rằng: Dạy học tích hợp được hiểu là GV tổ chức để HS huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết.
11 Như vậy, dạy học tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở HS những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi HS biết vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực. Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải được gắn với các tình huống của cuộc sống sau này mà HS có thể đối mặt và chính vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với HS. Như vậy, dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai.
c) Đặc trưng của dạy học tích hợp Mục đích của dạy học tích hợp là để hình thành và phát triển năng lực HS, giúp HS vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của cuộc sống. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định, và phương pháp tạo ra năng lực đó chính là dạy học tích hợp. Dạy học tích hợp có những đặc điểm sau đây: - Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức, kỹ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp. - Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho HS thực hiện được các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho HS hòa nhập vào thế giới cuộc sống.
- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt. 12 - GV không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở HS năng lực tìm kiếm, quản lý, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa. - Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc làm cho con người trở nên “mù chữ chức năng”, nghĩa là có thể được nhồi nhét nhiều thông tin, nhưng không dùng được. Như vậy, dạy học tích hợp là cải cách giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng, để có điều kiện tăng tải kiến thức có ích.
Để lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương trình các môn học trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho HS biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc. d) Tích hợp giáo dục đạo đức Là sự kết hợp chặt chẽ có hệ thống các kiến thức giáo dục đạo đức và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ bằng những phương thức tích hợp như: lồng ghép toàn phần (mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp với mục tiêu và nội dung giáo dục đạo đức), lồng ghép bộ phận (có một số phần của bài học có mục tiêu, nội dung phù hợp với nội dung, mục tiêu giáo dục đạo đức), liên hệ (mục tiêu và nội dung bài học có điều kiện logic với nội dung giáo dục đạo đức). Cùng với những phương pháp dạy học tích hợp lồng ghép như: phương pháp quan sát, thảo luận nhóm, trò chơi học tập, đề án, kể chuyện… 1.
Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo a) Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm nắng sáng tạo của cá nhân mình. Đây là những 13 hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS trải nghiệm và sáng tạo. Chính điều này đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động đó phải đa dạng, linh hoạt, mang tính mở, HS tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Khái niệm này khẳng định vai trò định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn của nhà giáo dục, thầy cô giáo, cha mẹ HS, người phụ trách… Nhà giáo dục không tổ chức, không phân công HS một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân HS tham gia trực tiếp hoặc ở vai trò tổ chức hoạt động, giúp HS chủ động, tích cực trong các hoạt động.
Phạm vi các chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em.TS Đinh Thị Kim Thoa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực. Có thể kể ra một số hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo: hình thức có tính khám phá (thực địa, tham quan, cắm trại), hình thức có tính triển khai (dự án và nghiên cứu khoa học, hội thảo, câu lạc bộ), hình thức có tính trình diễn (diễn đàn, giao lưu, sân khấu hóa), hình thức có tính cống hiến, tuân thủ (thực hành, lao động việc nhà, việc trường, hoạt động xã hội, tình nguyện).