Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao. Chương 2: Quản lý việc triển khai dự án đường dọc kênh 5 theo hình thức BT. Chương 3: Phân tích đánh giá tính khả thi của dự án Đường dọc Kênh 5 theo hình thức BT. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – CHUYỂN GIAO 1.
Khái quát về Dự án và quản lý dự án 1. Khái niệm và đặc trưng của dự án 1. Khái niệm: Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Những dự án phải thông qua hoạt động xây dựng mới thực hiện được mục đích đầu tư được gọi là dự án đầu tư xây dựng công trình. Theo quy định tại Điều 3, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.
Đặc trưng cơ bản của dự án: - Dự án có mục đích, có yêu cầu chặt chẽ về kết quả, chất lượng chi phí và thời gian. - Dự án có vòng đời riêng từ lúc hình thành phát triển đến khi kết thúc và có thời gian tồn tại hữu hạn. 6 - Sản phẩm của dự án mang tính chất sáng tạo, đơn chiếc, duy nhất, độc đáo (mới lạ). - Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án.
- Môi trường hoạt động “va chạm”, phức tạp, bất định và rủi ro. - Dự án sử dụng các nguồn lực có hạn: tài chính, nhân lực, vật lực. Một dự án xây dựng gồm có 3 thành tố chính là quy mô, kinh phí và thời gian. Trong đó: Quy mô thể hiện khối lượng và chất lượng của công việc được thực hiện.
Kinh phí là chi phí thực hiện công việc tính bằng tiền. Thời gian thể hiện trình tự trước sau thực hiện các công việc và thời gian hoàn thành dự án. Chất lượng là một bộ phận không thể tách rời liên quan đến quy mô, kinh phí và thời gian của dự án. Quy mô Chất lượng Chất lượng Kinh phí Thời gian Chất lượng Hình 1.3: Các thành tố chính của 1 dự án xây dựng 1.
Bản chất của quản lý dự án: Quản lý dự án là tác động quản lý của chủ thể quản lý thông qua quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. 7 Nói cách khác quản lý dự án là hoạt động quản trị quá trình hình thành, triển khai và kết thúc dự án, trong một môi trường hoạt động nhất định, với không gian và thời gian xác định. Dưới tác động của nhà quản trị, quản lý dự án được tiến hành theo ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Tập hợp các giai đoạn của quá trình quản lý dự án tạo thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó qua nhà quản lý phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày trong sơ đồ sau: Hoạch định kế hoạch - Thiết lập mục tiêu - Dự tính nguồn lực - Xây dựng kế hoạch Điều phối thực hiện Quản trị - Bố trí tiến độ thời gian Lãnh đạo, giao tiếp, thúc Thực - Phân phối nguồn lực đẩy, đàm phán hiện - Phối hợp các hoạt động - Khuyến khích động viên Giám sát, kiểm tra, đánh giá - Đo lường kết quả - So sánh với mục tiêu - Báo cáo Hình 1. Chu trình quản lý dự án 1. Mục tiêu của quản lý dự án: Mục tiêu tổng hợp của quản lý dự án là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép, ba mục tiêu này liên quan chặt chẽ với nhau theo công thức sau: C = f(P,T,S) Trong đó: C: chi phí 8 P: mức độ hoàn thành công việc (kết quả) T: Yếu tố thời gian S: Phạm vi dự án Phương trình trên cho thấy chi phí là một hàm của các yếu tố: mức độ hoàn thành công việc, thời gian thực hiện và phạm vi dự án. Phương trình trên cũng cho thấy mục tiêu tổng hợp của quản lý dự án do 3 thành phần tạo nên, đó là: - Kết quả mong muốn (số lượng, chất lượng) - Thời gian - Chi phí Trong quá trình quản lý dự án, các nhà quản lý mong muốn đạt được một cách tốt nhất tất cả các mục tiêu thành phần đặt ra.
Tuy nhiên, thực tế không đơn giản. Dù phải đánh đổi hay không đánh đổi mục tiêu, các nhà quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu thành phần của quản lý dự án nhằm đạt tới mục tiêu tổng hợp như thể hiện ở hình vẽ sau: Yêu cầu về thành quả Mục tiêu Chi phí Thời hạn Ngân sách quy định cho phép Thời gian Hình 1. Mối quan hệ giữa ba mục tiêu thành phần: Thời gian, chi phí và kết quả 9 Mục tiêu thành phần của quản lý dự án cũng thay đổi theo chiều hướng gia tăng về lượng và thay đổi về chất. Từ ba mục tiêu ban đầu (hay tam giác mục tiêu) với sự tham gia của các chủ thể gồm các chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn và đơn vị tham gia quản lý của Nhà nước đã được phát triển thành 4 (tứ giác), thành 5 (ngũ giác) mục tiêu.
Chất lượng Chi phí Chất lượng * Chủ đầu tư * Nhà thầu * Chủ đầu tư * Nhà tư vấn Thời gian * Nhà thầu Chi phí * Nhà nước * Nhà tư vấn * Nhà nước An toàn Vệ sinh Thời gian An toàn Hình 1. Quá trình phát triển của các mục tiêu thành phần của quản lý dự án 1. Tác dụng của quản lý dự án: * Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án; đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án. * Là môi trường thuận lợi cho việc đàm phán trực tiếp liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án.
* Giúp phát hiện sớm những khó khăn, vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. * Đảm bảo cho dự án được thực hiện đúng mục tiêu tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn. Quản lý quá trình sản xuất liên tục trong doanh nghiệp và quản lý dự án có những khác biệt bắt nguồn từ sự khác nhau giữa hai loại hoạt động này. Sự khác biệt này thể hiện rõ ở ba vấn đề sau: Quản lý rủi ro một cách thường xuyên: Thực hiện dự án thường phải đối mặt với nhiều rủi ro, bất định trong công tác lập kế hoạch, dự tính chi phí, dự đoán thay đổi công nghệ, sự thay đổi cơ cấu tổ chức…Do vậy, quản lý dự án nhất thiết phải đặc biệt 10 chú trọng công tác quản lý rủi ro, cần xây dựng các kế hoạch, triển khai thường xuyên các biện pháp phòng và chống rủi ro.
Quản lý sự thay đổi: Nếu như trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các nhà quản lý thường nhìn vào mục tiêu lâu dài của tổ chức để áp dụng các phương pháp, kỹ năng quản lý phù hợp, thì trong quản lý dự án, vấn đề được đặc biệt quan tâm là quản lý sự thay đổi. Môi trường của dự án là môi trường biến động. Quản lý tốt sự thay đổi góp phần thực hiện tốt mục tiêu của dự án. Quản lý nhân lực: Chức năng tổ chức giữ vị trí quan trọng trong quản lý dự án.
Lựa chọn nhân sự và mô hình tổ chức phù hợp sẽ có tác dụng phân rõ trách nhiệm và quyền lực trong quản lý dự án, do đó, đảm bảo thực hiện thành công dự án. Giải quyết vấn đề “hậu dự án” cũng là điểm khác biệt giữa quản lý dự án với quản lý quá trình sản xuất liên tục trong doanh nghiệp. Nội dung quản lý dự án: a. Theo phạm vi quản lý: Theo phạm vi quản lý, quản lý dự án bao gồm quản lý vĩ mô và quản lý vi mô đối với dự án.
Quản lý vĩ mô đối với hoạt động dự án: Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước đối với dự án bao gồm tổng thể các biện pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, thực hiện và kết thúc dự án. Quản lý vi mô đối với hoạt động dự án: Quản lý dự án ở tầm vi mô là quản lý các hoạt động cụ thể của dự án. Nó bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát bao gồm nhiều nội dung như quản lý thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua bán… Quá trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn vận hành các kết quả của dự án.