Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý DTLSVH trong quá trình ĐTH hiện nay là nội dung quan trọng mang tính toàn cầu. Khá nhiều các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế quan tâm đề cập tới lĩnh vực quản lý DSVH nói chung, quản lý DTLSVH nói riêng. Các vấn đề về lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị DSVH, DTLSVH được quan tâm nghiên cứu, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị cho từng trường hợp cụ thể.
Từ các nguồn tài liệu như sách, luận án, luận văn, bài viết tạp chí, công trình nghiên cứu, NCS đã phân tích, tổng hợp thành các nhóm vấn đề chính sau: 1. Các công trình nghiên cứu sự phối hợp của các bên liên quan trong quản lý di tích được áp dụng trong luận án Các vấn đề liên quan đến DTLSVH là việc của các cơ quan Nhà nước, nhưng cần sự phối hợp của CBLQ, nhất là cộng đồng và doanh nghiệp. Khi đưa ra vấn đề về Lý thuyết CBLQ trong quản lý và bảo tồn DSVH đô thị [92], tác giả Jia Wen cho rằng: Mô hình trong quản lý, bảo tồn DSVH là các cơ quan chính phủ, người dân và cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ, khách du lịch, các đơn vị tư nhân, các nhà nghiên cứu. Việc khai thác DSVH cần có kế hoạch và thực hiện trong mối liên quan chặt chẽ giữa CBLQ.
(2005), trong bài viết nghiên cứu về Sự phối hợp giữa các bên liên quan và quản lý di sản đã đề cập đến mối quan hệ giữa quản lý di sản và phát triển du lịch ở Luông Pha Băng, Lào nhằm xem xét vai trò hợp tác, quản lý của CBLQ, cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau của mối quan hệ bảo tồn di sản và du lịch. Nghiên cứu xem xét một dự án của chính phủ, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác giữa bảo tồn di sản và du lịch thông qua sự tham gia của CBLQ. Tác giả đề cập đến năm khía cạnh: các kênh liên lạc giữa di sản và các nhóm du lịch, tạo thu nhập cho quản lý và bảo tồn di sản, liên quan đến cộng đồng địa phương trong việc ra quyết định, liên quan đến cộng đồng địa phương trong các hoạt động du lịch, đánh giá mức độ và thành công của sự hợp tác giữa CBLQ [111]. Nghiên cứu về 13 Tính phức tạp của di sản và du lịch: trường hợp Lumbini, Nepal [123] tác giả Nyaupane cho rằng: Mâu thuẫn trong quản lý và bảo tồn di sản văn hóa do sự khác biệt về giá trị, mối quan tâm, kỳ vọng và sự ưu tiên giữa CBLQ, tạo nên khó khăn, thách thức trong công tác quản lý, điều hành.
Tác giả nhận thấy, người dân ở đây nhìn nhận di sản của họ như một nguồn phát triển kinh tế hơn là tài sản tinh thần. Nhưng chính phủ Nepal lại sử dụng di sản đó để duy trì và phát huy lòng tự hào dân tộc, quảng bá, xúc tiến du lịch, kêu gọi sự hỗ trợ, đầu tư của quốc tế. Đánh giá về lợi ích, tầm quan trọng của CBLQ, tác giả khẳng định có sự liên kết mạnh mẽ, từ góc nhìn xã hội, mục đích của bảo tồn di sản là kết nối giữa các bên liên quan và các địa điểm, văn hóa. Những đánh giá dựa trên các số liệu thực tiễn về những biến đổi, tác động mà du lịch mang lại cho phố cổ Hội An được đưa ra trong Báo cáo của dự án do UNESCO tài trợ về Quản lý di sản văn hóa và Du lịch – Mô hình cho sự hợp tác giữa các bên liên quan – Nghiên cứu trường hợp Hội An, Việt Nam [127].
Hội An cần tham khảo thực hiện trong công tác hoạch định kế hoạch hay chiến lược phát triển của địa phương nhằm làm giảm các tác động tiêu cực của du lịch, trong định hướng cần tăng cường sự tham gia và hợp tác của CBLQ trong các hoạt động hoạch định chính sách và thực thi chính sách có liên quan ở Hội An, đây là những vấn đề đặt ra cần được quan tâm. Công trình Quản lý di sản văn hoá ở Trung Quốc: Bảo tồn các thành phố của đồng bằng sông Châu [119] đã tập hợp 5 hành động cụ thể tương ứng với 5 nhóm chỉ tiêu được thực hiện ở nhiều quốc gia phát triển để quản lý di sản bao gồm: quá trình kiểm kê ban đầu, những ban hành có tính pháp luật bảo vệ, tăng tính chuyên nghiệp, tham khảo ý kiến và sự tham gia của CBLQ đánh giá trách nhiệm của các chuyên gia, CBLQ khác là nhà nước. Theo Wondirad [131] trong nghiên cứu về phối hợp giữa CBLQ khi phát triển du lịch sinh thái bền vững tại miền Nam Ethiopia đã chỉ ra sự phối hợp giữa CBLQ là nhân tố cơ bản cho sự phát triển du lịch sinh thái bền vững. Nghiên cứu đã phát hiện ra sự tương tác và hợp tác kém giữa CBLQ về du lịch sinh thái, đây là nguyên nhân đẩy nhanh quá trình suy thoái tài nguyên thiên nhiên, cộng đồng không quan tâm do lợi ích chỉ mang đến cho CBLQ khác ở miền Nam Ethiopia.
Mối quan hệ mật thiết giữa bảo tồn DSVH phi vật thể với bảo tồn DSVH vật thể, đa dạng văn hóa, sự tham gia của xã hội vào công cuộc bảo tồn và phát huy DSVH đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý đưa ra tại Hội thảo khoa học quốc tế 10 năm 14 thực hiện Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể - những bài học, kinh nghiệm và định hướng tương lai [38]. Hội thảo Tính liên ngành trong bảo tồn di tích [35] do Viện Bảo tồn di tích tổ chức tại Hà Nội đầu năm 2010, đã tập trung vào mối quan hệ hữu cơ giữa bảo tồn di tích (văn hóa vật thể) với các lĩnh vực liên quan như lịch sử, khảo cổ, kiến trúc, mỹ thuật, văn hóa truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng, DSVH phi vật thể. Bảo tồn di tích trong mối quan hệ với quản lý xã hội, các vấn đề cộng đồng, phát triển kinh tế, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường. Tác giả Bùi Hoài Sơn trong tham luận về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở Phú Thọ nhìn từ cộng đồng [84] đã đưa ra nguyên tắc áp dụng cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên cơ sở lý luận từ các khuyến nghị của UNESCO về vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, trong đó nhấn mạnh việc phát huy vai trò của cộng đồng đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản không chỉ là một giải pháp mà còn là một nguyên tắc; cộng đồng phải được tham gia bảo tồn, lên kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị DSVH; tham gia vào quá trình đánh giá hiệu quả; phải được hưởng lợi từ hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVH.
Các vấn đề liên quan đến DTLSVH không chỉ là việc của cơ quan Nhà nước, mà cần sự phối hợp của CBLQ, nhất là cộng đồng địa phương. Các công trình nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử - văn hoá Vấn đề quản lý DTLSVH được các nhà nghiên cứu tiếp cận khá sớm từ việc nghiên cứu di sản đã phát triển với các khía cạnh thực tế, thường xuyên được nói ngắn gọn bằng từ “quản lý di sản”. Larkham trong nghiên cứu về “Xây dựng một di sản mới: du lịch, văn hóa và bản sắc mới ở Châu Âu” xem việc khai thác các giá trị của di sản như một ngành công nghiệp do vậy việc quản lý cần có những phương thức của một ngành công nghiệp với cách thức quản lý phù hợp với những đặc điểm của các di sản [113]. Trong giáo trình Quản lý công nghiệp văn hóa [131] Zhan Chang Yuan cũng đề cập việc quản lý DSVH như một ngành công nghiệp cần chú ý tới chính sách, nguồn tài nguyên, nhân lực thực hiện.
Các tác giả đề cập tới hai vấn đề của quản lý đó là bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong nhiều nghiên cứu. Trong nghiên cứu về Quản lý du lịch di sản, Brian Garrod, Alan Fayall lại thừa nhận cần có sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác, nếu di sản không được bảo vệ, giữ gìn thì sẽ bị mất, không còn gì để lại cho thế hệ mai sau [115]. Tác giả Arthur Perdersen trong Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu di 15 sản thế giới [112] cho rằng: Những nơi thu hút chính của du lịch và cũng là nơi ngày càng có nhiều du khách đến thăm là các khu vực được bảo vệ, đặc biệt là các khu Di sản thế giới, những lợi ích kinh tế tiềm tàng mà du lịch có thể mang lại sẽ không trở thành hiện thực nếu không được hoạch định công phu; phát triển du lịch không có kiểm soát có thể đưa tới những tác động tiêu cực rất lớn đối với những kho báu trong di sản của nhân loại. Tài liệu Hướng dẫn thực hiện công ước về Di sản thế giới [105] nhận định DSVH và thiên nhiên là những tài sản vô giá, không thể thay thế được không chỉ đối với các quốc gia mà còn đối với toàn thể nhân loại.
UNESCO đặt ra yêu cầu đối với các quốc gia thành viên là phải xây dựng kế hoạch nhằm quản lý các khu di sản thế giới với các mục tiêu cơ bản như: phải nhận diện chính xác giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản; xác định những áp lực từ tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội đến khả năng bảo tồn và phát huy di sản; cơ chế, chính sách phù hợp để thực thi việc quản lý di sản; hành động cụ thể nhằm ngăn ngừa, hạn chế những yếu tố ảnh hưởng đến di sản; thu hút các nguồn lực xã hội cho hoạt động bảo tồn DSVH. McKercher và Du Cros thống nhất cho rằng du lịch đang nhanh chóng được thừa nhận là một cách sử dụng tiềm năng các di sản. Đối với các di tích và người quản lý, du lịch tạo ra lợi nhuận và lợi nhuận đó có thể tái đầu tư vào việc tìm kiếm, lưu trữ, lập kế hoạch và bảo tồn vốn là những công việc quan trọng của việc quản lý bền vững các di tích văn hóa [124, tr. Tiếp cận bài viết “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa” của tác giả Đặng Văn Bài [2, tr.